  ƠN GỌI THỪA SAI.

 

Ḷng Đạo Đức B́nh Dân


chỉ những biểu hiện phụng tự mang tính cách cá nhân hay cộng đồng, mà trong khuôn khổ đức tin Kitô-giáo, diễn tả trước hết, không phải là theo các thể thức phụng vụ, nhưng vay mượn những sắc thái đặc thù thuộc tinh hoa của một dân tộc hay một sắc tộc, nghĩa là thuộc văn hóa của họ (Bản Dịch UBVH/HĐGM 2003, trg.21). là một cách biểu lộ đức tin nhờ những yếu tố văn hóa của môi trường cụ thể, qua việc diễn tả và khơi gợi một cách mạnh mẽ và hữu hiệu t́nh cảm của những ai cùng sống trong môi trường đó (op.cit. trg.9 - trích Sứ Điệp ĐTC GP2 - 21/9/2001). là h́nh thức đầu tiên và căn bản cho việc "hội nhập văn hóa" (op.cit. 112).


Một trong những nguyên tắc chung là những việc đạo đức không bao giờ mang tính bó buộc (op.cit. số 11 tr.24).

 

Bí Tích Thánh Tẩy

 

Bí Tích Thánh Thể

 

 

 CÙNG MẸ MARIA THEO CHÚA YÊSU VÀO SỨ VỤ TIN MỪNG (WITH MARY FOLLOW CHRIST IN MISSION)

Lm. Yuse Trần Sĩ Tín

 

(Suy niệm cho kỳ Tĩnh Tâm thường niệm của anh em DCCT Hải Ngoại 2005)

 

DẪN NHẬP


Có một sự trùng hợp tôi cho là lạ lùng khi cuộc tĩnh tâm của chúng ta bắt đầu đúng vào ngày 10/10, ngày mà chúng tôi (4 anh em DCCT Antôn Vương Đ́nh Tài, Phêrô Lêônard Hồ Văn Quân, Yuse Trần Sĩ Tín, Phêrô Nguyễn Đức Mầu, được Đúc Cha Kim (Paul Seitz), Giám Mục Giáo Phận Kontum, đưa về Pleikly, cách Pleiku khoảng 60km về phía Nam, năm 1969.


Năm 1969, Cha Antôn Vương Đ́nh Tài và Thầy Phêrô Lêônard Hồ Văn Quân đang phục vụ một giáo điểm người Kơho trong vùng Phi Yang (Phú Sơn - Đàlạt). T́nh h́nh chiến sự những năm 1965-1968 rất ác liệt khiến người dân chạy loạn dồn về vùng Phi-Yang (Dà-Mpao, Rơlơm). Các thừa-sai cũng bị dồn cục như vậy có cả chục người. Nhiều cơ-sở đă bị pha hủy. Công việc không có bao nhiêu. Cha Tài xin BT cho ra đi t́m một địa điểm mới. Ngài đi tới những giáo-điểm ngoài địa-phận Đà-lạt. Thăm giáo-điểm người Chăm của các Cha Phanxicô. Đến Ḍng Biển-Đức BMT để tiếp cận với người Eâđê. Vùng này co ønhiều bạn bè và họ hàng đồng hương Nghệ-Tĩnh có thể hỗ trợ đắc lực. Nhưng ĐC Mai tỏ vẻ không mặn mà lắm với DCCT.


Cha Tài theo đường 14 đi tiếp lên phía Pleiku-Kontum, ghé thăm một người bạn học cũ đang phục-vụ giáo-điểm Cheoreo, Cha Phaolô Vũ-văn-Thiện, xuất thân từ DCCT. Lúc đó chúng tôi mới bắt đầu biết đến người Jarai. Cha Tài lên gặp ĐC Phaolô Kim, được ngài hoan hỷ đón nhận. Và ngày 10/10/1969, chính ĐC cùng với Cha Vũ-khắc-Minh lái xe đưa chúng tôi về Pleikly không nhà, không cửa, không mang theo ǵ cả. ĐC đọc đoạn TM Lc 10,1-12, cầu nguyện và chúc lành cho chúng tôi rồi nói : “Bây giờ các anh có bốn người, nếu DCCT đưa lên đây 72 người như trong bài TM, tôi cũng nhận”

. . . Sau đó ngài lên xe trở lại Kontum. Trời đă về chiều. Không ai dám cho mấy kẻ lạ mặt này trú ngụ cả. Người ta chỉ cho chúng một căn pḥng đầu trường làng vốn là nơi trú đêm của đàn dê trong làng. Chúng tôi dành chỗ của chúng và phải quét dọn mọi thứ phế thải của chúng. Thế là chúng tôi bắt đầu được làm dân với dân, được làm Jarai với Jarai. Măi tới năm 2001, chúng tôi mới biết đến hai lá thư ĐC Phaolô Kim viết cho DCCT từ 1953, lặp lại năm 1956, kêu gọi DCCT lên cộng-tác với GP Kontum phục-vụ người thiểu-số :


xin coi tài liệu đính kèm:
1.- lettre du Vicaire Apostolique Paul Seitz (14-3-1953)
2.- lettre du Vicaire Apostolique Paul Seitz (29-2-1956)
 

Vậy ra con đường chúng tôi đi, đâu có phải con đường chúng tôi “tự ư' (1Cr 9,17) lựa chọn : có Ai đó đă chọn cho chúng tôi rồi (Ga 15,16) !


Tháng 3 năm 1971, tức 17 tháng sau khi tới Pleikly th́ có đánh lớn tại vùng PhúNhơnPleikly. Chúng tôi bị quân CM bắt đem vào rừng sâu (bay giờ th́ chúng tôi biết là ở bên kia biên-giới Cam-bốt). Bị cùm hai tháng liền. Bị tra hỏi. Bị sốt rét. Giờ lao-động là giờ hạnh-phúc v́ không bị cùm và không bị tra hỏi. Bốn tháng sau người ta cho chúng tôi về : một cử chỉ đoàn kết toàn dân chống Mỹ cứu nước. Thầy Marcô Đàn vĩnh viễn nằm lại trong rừng sâu. Thầy chết v́ sốt rét (lúc 0giờ 5phút ngày 12/5/1971) sau khi đă cứu chữa cho nhiều người. Thầy được phúc chết trong khi thi hành sứ-vụ TM và chết như một người nghèo nhất : trên người chỉ có tấm áo ḍng, chôn không quan tài.


Chỉ có tôi tham gia vào việc đào huyệt chôn Thầy v́ lúc đó Cha Mầu cũng sốt rét đang trong cơn hôn mê. Ai trong chúng tôi cũng nghĩ lần lượt ḿnh cũng sẽ nằm xuống như thế. Khi họ thả chúng tôi về cuối tháng 7, th́ cuối tháng 8, Cha Tài, Cha Phán lại bị bắt. Nhưng chỉ một tuần sau th́ được thả. Như thế cũng đủ phá b́nh địa mấy căn cḥi Cha Tài dựng lên tạm bợ sau cuộc chiến tháng 3/1971. Chúng tôi phải kéo nhau về Cheoreo tạm trú. Trong ṿng hơn một năm rưỡi ở Cheoreo, chúng tôi tổ chức cùng anh chị em Jarai phiên dịch toàn bộ cuốn Tân-Ước ra tiếng Jarai. Đó là công-việc duy nhất tuy bất toàn nhưng hữu ích c̣n tồn tại. Khi anh chị em Jarai trở lại theo Chúa th́ đó là cuốn sách duy nhất mà chúng tôi sử dụng. Nếu không có cuốn sách đó th́ chúng tôi không biết sẽ làm ăn ra sao. Điều duy nhất Chúa cho chúng tôi làm là chuẩn bị để Dân Chúa nghe Lời Chúa và học cùng Ngài (Ga 6,45).


Năm 1973, chúng tôi trở lại Pleikly, chưa làm được ǵ th́ giải-phóng 1975, để lại chỉ làm dân với dân và làm . . . thinh ! Cấm truyền Đạo ! Cấm làm lễ ngoài xă phường nơi thường trú ! Lúc đó phía Jarai trong vùng chỉ có 3 gia-đ́nh thanh-tẩy : gia-đ́nh Ami' H'Mi, gia-đ́nh Ami' H'Dar do Cha Tài thanh-tẩy tại Pleiku, gia-đ́nh Ami' H'Xuân do Cha Bianchetti thanh-tẩy tại BMT. Thế là cứ rẫy nương và chài lưới ! Và nghe akhan (truyện dân gian), nghe cồng chiêng, nghe ca hát, nghe phai-yang(cúng thần), nghe phat-kơđi(xét xử) . . .


Oâi những áng văn-chương, những ḍng tư-tưởng, những điệu nhạc Tây Nguyên, gru ama groa ami' (dấu ấn của cha tinh-hoa của mẹ) . . . cho một ḿnh tôi bây giờ là kẻ “ngoại đạo” ! Tôi không có óc khoa-học đủ, không có óc nghiên-cứu đủ, nhanh nhạy đủ để thu tất cả vào băng, vào giấy ! Tiếc ôi là tiếc ! Lúc đó tôi đúng là chân lấm tay bùn mất rồi ! Tôi đă trở thành một người Jarai thực thụ nghĩa là một người chỉ sống và suy nghĩ bằng cái lỗ tai của ḿnh thôi ! Một nền văn-minh của lỗ tai ! . . .


Cho đến những năm chuẩn bị Năm Thánh 2000 : Năm Thánh Đức Mẹ 1985 ; Năm tấn phong các Thánh Tử-Đạo VN 1988. Vào những năm đó bỗng nhiên tất cả các dân-tộc ít người trên đất nước VN đều đứng lên t́m theo Chúa. Tôi nói ở khắp mọi nơi, chứ không riêng ǵ ở vùng Pleikly chúng tôi. Cho nên xin đừng gán cho chúng tôi công cuộc trở lại này ! Người thương th́ khen (cũng thích), kẻ ghét th́ bực (cũng ngại). Nhưng không phải chúng tôi mà ! Chúng tôi chỉ quen biết có hai ba làng ở gần chúng tôi thôi, chứ không phải 96 làng có người đến với chúng tôi như bây giờ. Mà những người ở gần chúng tôi lại trở lại chậm và ít hơn những người ở xa ! Lại c̣n phía Cheoreo-Tơlui' có cả 150 làng, cũng chừng đó phía Pleiku, Măng-Yang, Chư-Prong, Chư-Pah . . .


Chúng tôi đâu có biết người Khơmer, người Stiêng, Mơnông, Raglai, Churu, Eâđê, phía Nam, người Chăm, người Bahnar, Sơđăng, Jeh, Bru . . . chúng tôi đâu có biết đến người Mường, người Mèo, người Hmông . . . phía Bắc ! Aáy thế mà họ đều đứng lên t́m Chúa, t́m Đạo ! Rơ ràng không phải tụi tôi. Khi chúng tôi nói tại Đức Mẹ, tại các Thánh Tử-Đạo th́ không ai tin cả ! Cứ gán cho chúng tôi rồi hạch hỏi và đe dọa : tuyên truyền làm sao ? dụ dỗ làm sao ? bắt tù à ! - Tụi tôi chẳng có ǵ để mất cả ! Khi người ta xin theo Đạo, chúng tôi bắt buộc phải nhận. Khi nhận th́ phải hướng dẫn tối đa. Đă là tín-hữu th́ khi người ta đă kêu, là đi, đi tới đâu cũng đi, chết cũng đi ! Nhiệm-vụ mà !


Tháng 10 cũng là tháng nhắc nhở chúng ta “Truyền Giáo” (Loan Báo Tin Mừng cho Lương Dân) bắt đầu từ lễ Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Yêsu, Bổn Mạng các xứ Truyền Giáo; lại có Chúa Nhật Truyền Giáo cầu cho “Việc Rao Giảng Tin Mừng cho các Dân Tộc” (với các mẫu gương trong tháng là Mẹ Maria, các chị Têrêsa Avila và Hài Đồng Yêsu, các anh Luca và Giêrarđô).

Tháng 10 lại là tháng Mân Côi. Kinh Mân Côi, như chúng ta biết, không phải là “lần chuỗi” mà là cùng với Đức Mẹ Maria “lần theo” chương tŕnh kế hoạch (nhiệm cục - ECONOMIA SALUTIS) cứu độ của Thiên Chúa - LẦN THEO CON ĐƯỜNG SỨ MẠNG (MISSIO) CỦA CHÚA YÊSU CON THIÊN CHÚA XUỐNG THẾ LÀM NGƯỜI DO QUYỀN NĂNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN, SINH BỞI ĐỨC TRINH NỮ MARIA, CHỊU NẠN CHỊU CHẾT ĐÓNG ĐINH THẬP GIÁ, PHỤC SINH SỐNG LẠI ĐỂ BAN THẦN KHÍ CHO CHÚNG TA. Đó cũng là Mầu Nhiệm Đức Tin, Mầu Nhiệm Cứu Độ, là Tin Mừng Nước Thiên Chúa mà chúng ta được kêu gọi đón nhận và loan báo.


Chính v́ vậy, xin đề nghị chủ đề của chúng ta là : CÙNG MẸ MARIA THEO CHÚA YÊSU VÀO SỨ VỤ TIN MỪNG CHO MUÔN DÂN. Chúng tôi xin nhắc lại cho anh em “những ơn. . . những điều mà Đức Kitô đă dùng chúng tôi để thi thố . . . qua anh chị em Jarai theo đường hướng EVANGELIZARI A PAUPERIBUS. Và hôm nay chính bản thân tôi cũng là một PAUPER nói cho những PAUPERIBUS DEI là chính anh em.


Chúng ta hăy cùng nhau đọc lại Rm 15,15-21. Đây là đoạn Thánh Kinh định hướng cho Nhóm Pleikly ngay từ thuở ban đầu. Cha Tài và chúng tôi đă cùng nhau đọc và suy niệm nhiều lần.


“15 Tôi. . . viết thư này cho anh em. . . nhắc anh em nhớ lại. . . ơn Thiên Chúa đă ban cho tôi”: Ơn Chúa đă ban cho Phaolô cũng là ơn Chúa đă ban cho chúng ta. Ơn ǵ?


“16 làm tư tế của Đức Kitô Yêsu nơi các dân ngoại, mà hành lễ là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, ngơ hầu lễ vật là dân ngoại được Thiên Chúa vui ḷng chấp nhận, bởi được tác thánh trong Thánh Thần”.


Đó là ơn Chúa đă ban cho Phaolô, cho chúng ta, cho tất cả các thừa sai. Tạ ơn Chúa! Trong năm Thánh Thể này, chúng ta nhắc lại đoạn Kinh Thánh này v́ sứ-vụ Tin Mừng đă là lễ tế, mang tính Thánh Thể; v́ cả chúng ta nữa Chúa đă ban ơn trở thành tư-tế của Đức Kitô Yêsu mỗi người theo cương vị của ḿnh, mà hành lễ là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa ngơ hầu lương dân trở thành của lễ trong Chúa Yêsu đẹp ḷng Chúa Cha v́ được tác thánh trong Thánh Thần. Tạ ơn Chúa!


“18 Quả tôi sẽ không dám nói đến điều ǵ Đức Kitô đă không dùng tôi để thi thố ra, mà làm cho dân ngoại biết vâng phục (Thiên Chúa) : bằng lời nói và việc làm, 19 bởi quyền năng, dấu lạ và điềm thiêng, bởi quyền năng của Thần Khí”.


Được làm thừa sai là một ơn của Chúa, là được Chúa sai đi và sử dụng. Mọi việc là do Chúa làm, Chúa dùng ta mà làm. Nói theo kiểu Jarai th́ ta là con AMI' HMÂO YUA AMA HMÂO ĐAR (Mẹ nhờ, Cha sai). Chúa vừa là Cha, vừa là Mẹ của ta. V́ Chúa làm, nên (và nhất định) có quyền năng, dấu lạ và điềm thiêng của Thần Khí. Không thể có sứ vụ Tin Mừng nếu không có Thần Khí. Mà nếu có Thần Khí th́ nhất định có quyền năng, điềm thiêng và dấu lạ. Một sứ vụ Tin Mừng mà không quyền năng, không điềm thiêng dấu lạ mới là bất b́nh thường.


“Kể lại những ơn Chúa ban, những việc Chúa làm” là Loan Báo Tin Mừng “Thời đă măn, Nước Trời đă gần, hăy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mk 1,15). Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi việc, mỗi ơn. . . đều là một lời loan báo : “Thời đă măn, Nước Trời đă gần. Hay sám hối và tin vào Tin Mừng”. Chúng ta hăy nhận đây là “thời - kairos”. Chúng ta hăy đón nhận sự hiển trị của Chúa nơi bản thân và nơi cộng đoàn chúng ta. Chúng ta hăy để Chúa hiển trị trọn vẹn nơi ta. Xin để cho Ngài là tất cả nơi ta. Chúng ta xin dành trọn vẹn linh hồn và xác, trong vẹn thời gian, đêm và ngày. Xin Chúa d́m chúng ta trong Ngài, trong Thần Khí của Ngài. Xin cho chúng ta được “nghỉ ngơi” trong Ngài. Ngài là sự nghỉ ngơi, là b́nh an và vui mừng cho chúng ta. Xin Chúa xua đuổi mọi sự bất an, lo lắng, buồn phiền, chán nản, giận hờn. . . xua đuổi mọi tà thần ra khỏi chúng ta, ra khỏi cộng đoàn của chúng ta, ra khỏi cả nơi chốn chúng ta trú ngụ. . . Amen ! YÊSU CHIẾN THẮNG - HÙNG CƯỜNG VINH QUANG - NƯỚC NGƯỜI THỐNG TRỊ ĐẾN MUÔN NGÀN ĐỜI !

 

 ƠN GỌI THỪA SAI.

Lm. Yuse Trần Sĩ Tín

 

MỪNG VUI LÊN! HỠI NGƯỜI ĐẦY ƠN PHÚC! THIÊN CHÚA Ở CÙNG!
Lc 1,26-38


Thiên Chúa đă sai sứ thần đến với nữ tỳ của Người. Hôm nay Người cũng sai sứ thần đến với mỗi người chúng ta, tôi tớ của Người. Chúng ta biết rằng lời của sứ thần trong đoạn Tin Mừng này vừa nói với Maria, và cũng vừa nói với dân của Chúa, tương trưng nơi Maria, mà dân của Chúa là chúng ta bây giờ, tại đây. Chúng ta cũng c̣n là tôi tớ của Chúa. Hôm nay những lời này cũng được ban cho chúng ta: “Mừng vui lên hỡi người đầy ân phúc.” Chúng ta là những người đầy ân phúc của Chúa. Mỗi người trong chúng ta đều có thể làm chứng về những ân phúc muôn vàn Chúa đă ban trong suốt cuộc đời. “Chớ há quên những ơn của Ngài.” Hăy tạ ơn! Hăy chúc tụng! Đó là niềm vui của chúng ta!


Lạy Chúa, con hết ḷng cảm tạ,
Kể ra đây muôn việc lạ Chúa làm,
Mừng Ngài con hân hoan nhảy múa,
Đàn hát kính Danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao! (Tv 9A,2-3)

Hăy tạ ơn Chúa, cầu khẩn Danh Người,
vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân.
Hát lên đi, đàn ca mừng Chúa,
và suy gẫm mọi kỳ công của Người.
Hăy tự hào v́ Danh Thánh Chúa,
tâm hồn những ai t́m kiếm Chúa, nào hoan hỷ.
Hăy t́m Chúa và sức mạnh của Người,
chẳng khi ngừng t́m kiếm Thánh Nhan.

Hăy nhớ lại những kỳ công Người thực hiện,
những dấu lạ và những quyết định Người phán ra,
hỡi anh em, ḍng dơi Abraham tôi tớ Chúa,
con cháu Yacob được Người tuyển chọn! (Tv 104,1-6)



Nếu anh em đến với dân Jarai ta ở Pleikly-Chưsê, Cheoreo-Tơlui', Pleiku-IaLy, ChưTy-PleiDjit, anh em sẽ có dịp để nghe họ kể về những ơn của Chúa. Họ là Hội Thánh của Chúa không những v́ họ là “giống ṇi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa” , nhưng c̣n là Hội Thánh của Chúa bởi v́ họ “loan truyền những kỳ công của Chúa, Đấng đă gọi họ ra khỏi miền u tối, vào nơi ánh sáng diệu huyền. Xưa họ chưa phải là một dân, nay họ đă là dân của Thiên Chúa; xưa họ chưa ược hưởng ḷng thương xót, nay họ đă được xót thương.”.


Một lần khi nghe được Tin Mừng này, Ama Hiếu đă viết cho tôi ca khúc GỈNG GIỐNG KITÔ (Kơnung Kristô):


Xin Cha tỏ Danh Cha sáng ngời,
Muôn người biết Cha chính Chúa Trời,
Hiệp thành Hội Thánh, Nhất tâm nên Nhiệm Thân,
Một lời ngợi khen, Quyết tâm phượng thờ Cha.

Xin Cha phái cho Thánh Linh Ngài,
Qui tụ bốn phương hướng nên một,
Thành Dân Tư Tế Đế Vương riêng của Cha,
Hiệp cùng Yêsu, chính Con yêu của Cha. AMEN.


Tôi có thể kể cho anh em hằng trăm hằng trăm chứng từ của người Jarai về những ơn của Chúa ban cho họ. Tôi có thể quả quyết rằng không có một cộng đoàn CG nào ở VN lại có nhiều người như thế, mà toàn là những người hèn mọn, đàn ông, đàn bà, rất hồn nhiên, vui vẻ kể lại những việc Chúa làm, tức là những ơn Chúa ban để ca tụng ngợi khen Chúa. Họ làm chứng về ân sủng của Chúa.


Từ đó tôi biết rơ hơn LÀM CHỨNG (vốn là một từ khác để nói về Sứ Vụ - Missio - một từ càng trở thành thời sự khi ĐGH Gioan-Phaolô II nói rằng: Thời nay người ta cần đến chứng tá nhiều hơn là lư sự) là kể lại những việc Chúa làm chứ không phải về những việc ḿnh làm. Phêrô, Phaolô và các Tông-Đồ làm chứng là làm chứng về những việc Chúa làm chứ không phải những công việc con người làm. Trong một Đạo luân lư, người ta sẽ chú trọng đến công việc tốt lành con người làm. C̣n trong Đạo Tin Mừng, Đạo mạc khải, người ta chú trọng đến công việc Chúa làm, đồng thời cũng là ơn Chúa ban, ân sủng của Ngài. Nhất là khi “ân sủng” ấy lại là chính Ngài. “Đức Chúa ở cùng Bà.”


“Chúa ở cùng bạn.” “Chúa ở cùng anh chị em.” Hội Thánh lặp lăi măi như thế, nhất là trong những giờ chúng ta được Chúa qui tụ trong phụng-vụ. “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy (hay trong danh Thầy), th́ có Thầy ở đó, giữa họ” (Mt 18,20). Chính v́ Ngài ở cùng mà có đầy ân sủng. Việc được đầy ân sủng không hệ tại chúng ta xứng đáng hay không xứng đáng, chỉ hệ tại nơi việc Ngài ở cùng - và hệ tại chúng ta tin hay không tin, chấp nhận hay không chấp nhận, chịu hay không chịu. Bây giờ anh em chỉ cần nói hết ḷng AMEN, tức khắc anh em “đầy ân sủng” v́ “Chúa ở cùng anh em”.


Chúng ta không thể nói: Ngài chỉ ở cùng chúng ta một phần của Ngài thôi. Không, chỉ có chúng ta dè dặt như thế. Chỉ có chúng ta phân tán như thế. Chỉ có chúng ta hay “chia” ḷng “chia” trí như thế. C̣n Ngài th́ bao giờ cũng trọn vẹn. “Con xin thánh hiến chính ḿnh Con cho họ” (Ga 17,19a). Hăy lắng nghe Thập Giá. Hăy lắng nghe Thánh Thể. “Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1b). Ngài không yêu cái kiểu nửa vời như chúng ta! Cho nên ta không thể nói: Ngài chỉ yêu thương ta một phần nào đó thôi. Chính v́ vậy mà chúng ta “đầy ân sủng”.


Khi Ngài hay ngôn sứ của Ngài đến với chúng ta, th́ chỉ có thể nói: “Mừng vui lên, hỡi người đầy ân sủng, (v́) Đức Chúa ở cùng.” Mệnh lệnh của Chúa khi phái các môn đệ đi loan báo là: “Nước Trời đă cận kề” (Lc 10,9). Nếu bạn nói AMEN th́ tức khắc “Chúa ở cùng”. Ngài hiển trị nơi bạn. Ngài là Vua, là Đức Chúa của bạn. Ngài là Con Đấng Tối Cao và cũng là Thiên Chúa ở cùng bạn. Vậy “hăy vui lên, hỡi người đầy ân sủng (đầy chính Chúa v́) Chúa ở cùng, v́ Nước Trời đang cận kề”.


Ở những hội nghị hay những đại hội, nhất là ở VN bây giờ, khi giới thiệu những nhân vật tham dự, cả hội nghị đều vỗ tay; nhiều khi người ta c̣n la lên: hoan hô! Ngay tôi đây, không biết từ lúc nào, khi tôi bước vào chỗ anh chị em Jarai tụ tập, họ cũng vỗ tay và hô lên: “Bơni kơ ama rei hang ta!” (Mừng cha đến với chúng ta). . . C̣n cũng ở VN, khi chủ tế công bố: “Chúa ở cùng anh chị em!”, cộng đoàn trả lời yếu x́u: “Và ở cùng cha!” mà mặt lạnh như tiền! C̣n ở đây th́ thiên thần nói: “Mừng vui lên! Hỡi người đầy ơn phúc! Thiên Chúa ở cùng!” Khởi đầu giờ kinh phụng vụ, Hội Thánh kêu lên: “Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.” Và sau đó là:


Hăy đến đây ta reo ḥ mừng Chúa,
tung hô Người là núi đá độ tŕ ta.
Vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ,
cùng tung hô theo điệu hát cung đàn (Tv 94,1-2). Hay:

Hăy tung hô Chúa hỡi toàn thể địa cầu,
phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ,
vào trước thánh nhan Người giữa tiếng ḥ reo (Tv 99,1-2). Hay:

Ước ǵ chư dân cảm ta Ngài, lạy Thiên Chúa,
chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài (Tv 66,4).

Mừng vui lên, hỡi anh em là những người đầy ơn phúc! Chúa ở cùng anh em! Chắc chúng ta cũng nên cất tiếng ngợi khen Ngài:

 

ĐK. Chúc vinh Chúa Cha yêu thương trọn t́nh, Cha của Đức Chúa Kitô.
Cha thương chúc cho ta muôn sự lành, trong Thánh Linh đến từ trời cao.

1- Người chọn ta trong Đức Kitô nhân lành,
trước cả khi tạo thành trời đất.
Để nên thánh trước tôn nhan uy linh Người.
Đón phúc vinh được làm con Cha.

2- Để ta lớn tiếng chúc khen vinh quang Người,
bởi thánh ân Con Một yêu dấu.
Là Đấng đă cứu ta khỏi muôn tội t́nh
với máu nơi tim Ngài tuôn đổ.

3- Người thông tỏ ư định cao siêu nhiệm màu.
Thánh ư Cha quyết từ ngàn xưa.
Là thâu tóm hết thảy muôn vật muôn loài.
Đức Kitô đứng đầu quản cai.

4- Và anh em bởi đă nghe lời Tin Mừng.
Aán Thánh Linh niêm lời giao ước.
Làm cho ta trở nên dân riêng Chúa Trời,
biến chúng ta nên lời ngợi ca.


Chúng ta biết rằng trong Sách Thánh, khi nói “Chúa ở cùng” cũng có nghĩa là Chúa giao nhiệm vụ, Chúa sai đi làm một việc ǵ đó, một sứ mệnh, missio. Missio, Sứ Mệnh của Đức Maria là đón nhận Ngôi Lời nhập thể làm người, thành xương thành thịt, rồi sinh hạ Ngài cho chúng ta, Yêsu Thiên Chúa Cứu ta. Đến lượt chúng ta, chúng ta cũng được kêu gọi đón nhận Yêsu Con Thiên Chúa hằng sống trong ḷng ta, làm Chúa và Đấng Cứu Độ ta. Chúng ta cũng được kêu gọi “cưu mang và sinh” Chúa Yêsu cho nhiều người khác. Chắc chắn là Ngài muốn ở cùng ta, ở trong ta, và qua ta mà đến với những người khác để cứu và chữa.


Đức Maria hỏi: “Việc ấy xảy ra cách nào?” Thiên Thần trả lời: “Thần Khí sẽ ngự xuống trên bà.” Và đó là cách của Thiên Chúa. Thường thường chúng ta không quan tâm lắm đến cách Chúa làm. Chúng ta đă có cách của chúng ta rồi! Nhất là khi chúng đă được trang bị bằng triết lư, thần học, bằng khoa-học, kỹ thuật, tâm lư, xă hội, chính trị. . . Nhất là khi chúng ta thông minh sáng láng lanh lợi. . . Cả cái thế gian này nó là như vậy. Nó không cần Thiên Chúa. Một trí óc này, hai bàn tay này làm nên tất cả. Đó là niềm hănh diện hiên ngang vinh quang của thời văn minh tiến bộ hiện đại của chúng ta. Nhưng Đức Maria, và mấy ông thuyền chài miền Galilê được Chúa tuyển chọn cho sứ mệnh cứu thế lại nghèo hèn thiếu thốn tất cả những khoa học và phương tiện của thế gian, v́ thế chỉ biết làm theo cách của Thiên Chúa: đón nhận Chúa Thánh Thần hiện xuống.

 

Và khi đă đón nhận để cho Chúa Thánh Thần làm việc, th́ mọi cái đều trơn tru xuôi chảy (Ngài là Dầu), tự động, tự phát, tự do, tự nhiên. . . “Ở đâu có Thần Khí của Chúa th́ ở đó có tự do” (2Cr 3,17). Thần Khí Chúa ngự xuống là Maria tự nhiên nói lên được: “Xin thể hiện cho tôi theo như lời Ngài.” (Fiat mihi secundum verbum tuum). Không hề có chữ “xin vâng”! Fiat không có nghĩa là “xin vâng” mà là “xin thể hiện cho tôi”. Xin Chúa làm cho tôi v́ tôi không làm được. Cám ơn Chúa đă “sáng soi cho biết việc phải làm” và khi làm “xin Chúa ban ơn giúp đỡ, để mỗi kinh, mỗi việc, từ khởi sự cho đến hoàn thành, đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen”.


Dịch “xin vâng” là dịch cắt nghĩa theo ư của ta, theo cái ư “đạo đức” của ta. Trong hai tiếng “xin vâng” như thể nói lên cái nỗ lực phía con người gắng sức mà làm, trong khi sự thật là Chúa làm hết. Ngài lôi kéo chúng ta vào công việc của Ngài. Ngài làm cho chúng ta làm được với Ngài (per Ipsum, cum Ipso, in Ipso). Đó là cái cách mà người Jarai chúng tôi tôn vinh Lời Chúa. Chúng tôi không cắt nghĩa. Chúng tôi biết ǵ mà cắt nghĩa! Chúng tôi chỉ biết tin và xin Chúa thực hiện theo như lời Ngài. Bây giờ xin mời bạn cầu nguyện theo kiểu dân nghèo Jarai (đọc lại từng câu rồi cầu theo Lời đă được ban và cầu theo Đức Me: Xin thể hiện cho tôi theo lời Ngài. Sau đó xin cho biết cảm nghiệm những ơn được ban - chia sẻ).

 

 Thư ngày 14-03-1953 của GM/Kontum Paul Seitz

 

VICARIAT APOSTOLIQUE DE KONTUM
P.M.S. VIÊTNAM


PAUL SEITZ
Vicaire Apostolique


Kontum le 14 Mars 1953

Très Révérend Père,

 

Après mères réflexions et avoir imploré l'assistance du divin Martre, je ne peux plus tarder davantage à recommander à votre bienveillante attention quelques éléments du Problème Montagnarde, tells qu'il m'a été donné de les découvrir depuis que j'ai pris en charge ce Vicariat, et à solliciter de vous la fondation d'un Monastère Rédemptoriste à KONTUM.


Les populations des Hauts-Plateaux arrivent présentement à un «tournant» de leur histoire qui, à mon sens, sera décisif pour leur avenir: ou la mort, par refoulement et extinction, ou le salut, par évolution et christianisation.

Des conditions exceptionnelles, d'ordre géographiques et historiques surtout, ont permi cet extraordinaire conservation et survivance de peuplades primitives, stoppées à l'âge du fer, jusqu'en plein XXe siècle, Ces circonstances ont été, pendant des millionnaires peut-être, comme une « muraille de Chine» imperméable. Mais au cours du demi-siècle dernier, et depuis quelques années surtout, cette muraille s'est écroulées.


Désormais ces peuplades, que l'on peut évaluer à près d'un millions d'individus, qu'elles ne veuillent ou non, se trouvent brutalement happées dans le sillage des nations civilisées.



La pénétrations des Missionnaires en 1850, puis la prise en charge de l'Administration française, enfin le dernier acte politique du rattachement des Hauts-Plateaux au Domaine de la Couronne, avec comme conséquence la perspective certaine de l'immigration massive viêtnamienne, font que désormais ces tribus sont entrainés dans un grand courant qui les conduira à la vie ou à la mort, suivant que les «forces» en scène, en l'occurance le Gouvernement et l'Eglise, prendront conscience de leurs responsabilités.

Or des signes évidents, bien que modestes encore, se font jour qui démontrent les virtualités d'évolution de ces peuplades. Par ailleurs, sur le plan strictement religieux, on peut dire que s'amorce déjà chez elles un phénomène semblable à celui qui depuis quelques années ébranle l'Afrique noire: les demandes de conversion, par villages entiers, ne sont pas rares. Et cet ébranlement hors du paganisme ne se fait pas, hélas! au seul profit du catholicisme. Les protestants, influents, bien équipés et organisés, ont déjà de nombreux adeptes sur le Darlac et le Haut Donai.


Un plan, tout récent, de mise en valeur de ces régions, va organiser l'immigration viêtnamienne. Cette immigration est une arme à deux tranchants. Elle est de l'ordre de ces phénomènes naturels et historiques: le peuple le plus dynamique et le plus prolifique, entrainant la mort du plus faible. C'est une force aveugle, dont nous pouvons tout craindre si nous la laissons se manifester sans faire intervenir la raison, eclairée par la foi, et le coeur.

Je pense, et tous les missionnaires avec moi, que les Montagnards ont droit à la vie; qu'il y a place suffisante sur ces terres immenses pour que tous y cohabitent; bien plus, qu'il y a possibilité et même intérêt à ce que progressivement les Montagnards s'intègrent à la nation viêtnamienne. Oeuvre de longue haleine, à laquelle la force du christianisme peut et doit présider, comme naguère au VIẺ siècle, sous l'influence du ferment chrétien, la horde des tribus barbares déferlant sur le monde gallo-romain s'est fusionnỦe, amalgamỦe, pour constituer des nations nouvelles et engendrer la haute civilisation du moyen ỡge. Il me serait intolérable de penser que les « Moïs » pourraient être réduits, dans quelques décades d'années, à l'état de « réserves ». . .


Mais notre seule Mission de KONTUM, qui s'étend sur 70.000Km2, avec 700.000 habitants, dont 26.000 chrétiens seulement, ne compte qu'une quarantaine de Missionnaires.


Il y a donc place pour de nombreux ouvriers apostoliques. En particulier, il me semble que vous auriez sur ces Hauts-Plateaux un champs d'apostolat remarquablement adapté à vos fins particulières.


Outre que la présence d'un Monastère fervent est toujours une source de grâces spéciales pour le lieu qui l'abrite, l'oeuvre des « Missions paroissiales » correspondraient parfaitement à l'organisation de nos districts, où il convient de parfaire et d'approfondir la formation chrétienne de nos Montagnards. Au monastère mƠme, un centre permanent de «retraites» seraient d'une efficacité certaine auprès des élites montagnardes.

Mais il y a plus. Votre influence serait également nécessaire auprès des communautés viêtnamiennes existantes ou à venir, afin de former la «race dynamique et conquérante» à son rôle d'éducateur et d'apôtre auprès des montagnards. Cette immigration est une arme à deux tranchants, disais-je. . .  c'est à nous missionnaires, séculiers ou religieux, qu'il appartient d'en faire un instrument au service de la plus grande gloire de Dieu et du Salut des Montagnards. L'amour même que nous avons voué au Viêtnam ne nous commande-t-il pas d'essayer de l'engager dans cette noble voie?


C'est à cette oeuvre immense et difficile que je vous convie aujourd'hui. J'implore les lumières du Saint-Esprit afin qu'Il vous éclaire et, si telle est la volonté de Dieu, qu'Il vous donne les moyens de répondre à mon invitation, car, en vérité, vu dans ces perspectives, Kontum n'est-il pas un «grand diocèse» qui mérite le privilège de votre présence. . . ?


Vous savez par ailleurs toute la profonde estime et amitié qui me lient aux Pères Rédemptoristes, j'ajoute donc que ce me serait personnellement une joie de voir vos religieux partager nos espoirs et nos soucis sur ces montagnes.

Uni par la prière, je vous assure, Très Révérend Père, de mon affection et de mon religieux dévouement in Christo Jesu.


Signature : P. Seitz

Vic. Ap. Kontum

 

  Thư ngày 29-02-1956 của GM/Kontum Paul Seitz

 

VICARIAT APOSTOLIQUE DE KONTUM
P.M.S. VIÊTNAM


PAUL SEITZ
Vicaire Apostolique


Kontum le 29 Février 1956

Très Révérend Père,


Il y a trois ans bientôt, le 14 Mars 1953, je vous invitais à venir fonder une Maison dans le Vicariat de Kontum. Cette année, je renouvelle mon pressant appel et vous prie, Très Révérend Père, d’examiner à nouveau les possibilities d’une telle fondation.


Les motifs d’ordre général que je vous exposais alors n’ont rien perdu de leur valeur; bien au contraire les événements survenus depuis, leur ont donné plus de vigueur et d’actualité.


En particulier, le rythme de l’immigration viêtnamienne s’est sensiblement accru, rendant chaque jour plus urgente l’éducation et la formation chrétienne de ces nouveaux venus; tandis que les populations montagnardes, inquiètes de leur avenir, loin de passer par une crise de nationalisme et de xénophobie, appellent de tous leurs voeux prêtres et religieux étrangers.


Il parait certain, en outre, qu’en milieu montagnard-chrétien depuis environ un siècle, des vocations sacerdotales et religieuses pourraient être aisément recrutées. Nous-mêmes, nous penchons accueillir prochainement un groupe de ces enfants dans notre petit séminaire.


Gardant l’espoir que cette année 1956 sera favorable à la realisation de cette fondation, je vous prie d’agréer, Très Révérend Père, l’expression de mes sentiments les meilleurs et tout dévoués in Christo Jesu.


(A la main) Et en union de prière pour le prompt rétablissement de votre santé.

Signature: P. Seitz

Vic. Ap. De Kontum

 

  CHỨNG TỪ CỦA AMA NIÊM

 

[Rm 8,35-39:] " Ai có thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Đừc Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?

Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đă yêu mến chúng ta".


Đây là một cặp vợ chồng đă nếm trăi vàcảm nghiệm sâu sắc đoạn Kinh Thánh trên bằng cuộc sốngchứng tá của ḿnh tại Krongpa. "



Tôi là NAY-PLIH, c̣n gọi là ama Niêm, học hết lớp 7. Vợ chồng tôi ở Bon Ngôl, năm nay tôi 47 tuổi, vợ tôi 45 tuổi. Chúng tôi lấy nhau từ năm 1976. Cho đến bây giờ chúng tôi có 10 người con, 6 con gái, 4 con trai. Con đầu ḷng sinh năm 1978. Con út 3 tuổi rưỡi. Tôi chỉ làm nông.


Hồi đó, ở phía Krong-Pa này chưa có ai theo Đạo v́ sợ chính quyền làm khó dễ. Vợ chồng tôi theo Đạo không do ai lôi kéo hay hướng dẫn. Ban đầu chúng tôi nghe được rađiô, đài Tin Lành Philippin năm1987. Chiều nào cũng nghe. Vợ chồng tôi muốn theo Đạo, nhưng t́m không ra người chỉ bảo. Ai cũng sợ. Tôi bảo vợ tôi đi Bon Hlang, c̣n tôi đi Bon Bông, ḍ hỏi mọi nhà mà t́m Chúa. Vợ tôi ở một ngày một đêm tại Bon Hlang. Tại Bon Bông, tôi cũng ở qua đêm luôn. Tôi gặp được Ama Hlem, một người Jarai lấy vợ Bahnar có Đạo. Anh ta là cháu của cha tôi. Chúng tôi là anh em họ. Tôi nói với Ama Hlem: "Em có thấy anh tới nhà ba em khi ba em c̣n sống. Và em cũng biết anh có Đạo. Vậy Đạo là ǵ? Đạo là làm sao?. . ." Anh nói về Chúa Yêsu, về Chúa Thánh Thần. . . Tôi thấy cũng giống giống như Tin Lành. Thế rồi anh ta dẫn tôi tới với Cha Phán. Rất vui mừng.


Như vậy là ban đầu chỉ có hai vợ chồng tôi theo Đạo. Nhưng dần dần, dân làng thấy gia đ́nh tôi vốn cúng rất nhiều thần mà nay bỏ tất cả mà theo Đạo lành, sinh hoạt vui vẻ. Họ lại thấy chúng tôi cởi mở giúp đỡ mọi người, nên họ theo Đạo. Hầu như cả làng tôi, rồi tới Bon Diang. Cả Bon Ơi Nu cũng đến. Tôi không biết làm sao nữa. Tôi tưởng có ḿnh tôi theo Đạo, bây giờ ai cũng tới với tôi. Trong một năm tôi đi thăm tất cả các làng có người theo Đạo, cả làng của Ama Thuôt đây nữa.


Sau đó chính quyền bắt đầu kêu tôi tra hỏi đủ thứ về Đạo. Họ bắt tôi tới 9 lần cải tạo lao động tại xă. Nhưng Chúa ban ơn. Người ta càng làm khó dễ, ḷng tôi lại càng vui. C̣n dân làng vẫn hăng say sốt sắng. Họ cầu nguyện ca hát ở khắp nơi, trong nhà, ngoài rừng. . . Thấy cải tạo ở Xă không xong, họ bắt tôi đi cải tạo ơ Tỉnh, trại T15. Tôi đang cầy ngoài đồng, th́ du kích đến gọi tôi, nói xă muốn gặp. Tôi hỏi có chuyện ǵ thế. Du kích nói không biết. Khi tôi tới trụ sở xă thấy có 2 xe díp của Công An Tỉnh, của Huyện ở đó rồi. Tôi sợ lắm. Nhưng công an không có đó, họ đi uống rượu ở làng Bon Chuanh. Chỉ có chủ tịch xă, cũng say rồi. Họ tính bắt ban đêm. Nhưng rồi họ cũng để ban ngày mới bắt. Chủ Tịch cũng là anh em họ hàng với tôi.

Anh ta nói: "Thôi chết rồi anh ơi! Người ta đến bắt anh đó. Nếu anh chịu bỏ đạo th́ người ta tha. Nếu anh cứ nói ḿnh theo Đạo th́ tôi không thể làm ǵ được cho anh nữa."


Tôi nói : "Tôi theo Đạo thật, nhưng tôi không thấy việc tôi theo Đạo có tội ǵ. Đạo không có làm điều ǵ xấu, không làm điều ǵ trái với đường lối chính sách Nhà Nước. Vậy tôi có tội ǵ mà bắt tôi cải tạo như thế này?"

- "Anh bị bắt đi cải tạo v́ tội truyền đạo bất hợp pháp.
Cả Huyện Krong-Pa này theo Đạo là do anh. Anh nghĩ sao?"


Tôi trả lời: -"Bắt th́ cứ bắt chứ tôi chẳng biết nghĩ sao cả. Tôi không thể bỏ Đạo."

Thế là họ khóa tôi bằng c̣ng số 8. Tôi tháo đồng hồ đeo tay nhét vào túi áo kẻo sợ bể. Khi tới Pleiku họ mua cho tôi một ổ ḿ rồi đưa thẳng tới trại cải tạo. 4 tháng đầu tôi phải làm việc rất cực nhọc. Đến tháng thứ 5, như thể là Chúa thương v́ tôi vốn đau yếu, nên tôi được làm trật tự trong trại, coi 600 người. Họ nói tôi phải trông coi cẩn thận, mất ai là tôi phải chịu tội. Cho nên cũng mệt. Tôi làm trật tự viên như thế 2 năm. Tôi làm cai tù: Ai say rượu tôi phải bắt; ai đánh nhau, tôi cũng phải bắt; ai vắng mặt lâu, tôi cũng phải đi t́m; coi Tivi, mà có ai đi tiêu, đi tiểu, tôi phải canh, sợ trốn trại.


Măi cho tới khi tôi được thả về, tôi thấy gia-đ́nh vẫn vững vàng, tôi cám ơn Chúa. Khi tôi ở trong tù, tôi nghĩ Chúa muốn thử thách tôi. Tôi cũng thấy được giống như Chúa Yêsu v́ khi Chúa đến trần gian, Chúa cũng gặp nhiều đau khổ. Ngài đến cho ta biết Cha, được có Cha như Ngài. Thế mà Ngài phải chịu khổ nạn.


Tôi nhớ lại lời Ngài đă nói: "Ai muốn theo Ta, hăy vác thập giá. . ." Và tôi thấy Chúa ở gần tôi. Vợ tôi khóc thương tôi nhiều, từ ở nhà cho đến khi đi thăm tôi.


Tôi nói: "Em đừng buồn khóc, v́ tôi ở tù đây là việc Chúa kêu gọi cũng là để cho tôi được vững vàng. Giống như Chúa Yêsu, Ngài cũng chỉ ra rao giảng không được 3 năm là đă bị bắt, bị đánh đập, bị giết. Cho nên ḿnh sống th́ sống mà chết th́ chết. Cứ giữ Đạo cho vững. Ta cứ đi theo Chúa Yêsu, con đường Chúa Yêsu như thế nào là ta cứ theo như thế. Đừng buồn." Sau khi gặp tại trại cải tạo, nhà tôi vững tâm hơn, không c̣n lo buồn khóc lóc ,nữa.

C̣n dân làng, tôi nghĩ họ sẽ tháo lui. Nhưng khi trở về làng lại thấy dân đă theo Đạo đông hơn nữa. Bây giờ phía Krong-Pa này có 4 giáo điểm, gồm 28 làng. Riêng làng chúng tôi là 76 nhà, 430 người. Sinh hoạt trong tuần như sau: thứ tư chúng tôi cầu nguyện chung, thứ năm cầu nguyện với những người đau yếu hay gặp khó khăn, các bà goá. . .; thứ sáu lại cầu nguyện chung; ngày thứ bảy chúng tôi đón Ḿnh Thánh về cho mọi người thờ kính; và ngày Chúa Nhật chúng tôi phụng vụ Lời Chúa và rước Ḿnh Thánh Chúa. Đối với dự ṭng, chúng tôi cũng chỉ nghe Lời Chúa, cầu nguyện theo Lời Chúa và đón nhận Thần Khí Chúa, để Ngài dạy dỗ. Trong việc phục vụ Chúa, cám ơn Chúa là tôi được vợ tôi nâng đỡ động viên luôn. Có khi thấy tôi không muốn đi Cheoreo hay đi các cộng đoàn chính vợ tôi thúc dục tôi đi: "Việc Chúa tại sao bỏ, tại sao chán?" Nghe nhà tôi nói thế, tôi cảm thấy hối hận và lên đường. Việc giao cho ai đó mà người đó không đi, nhà tôi cũng thúc tôi đi luôn.


Nhà tôi bây giờ cũng đă trở thành nhà qui tụ cộng đoàn. Tôi cố gắng tự làm căn nhà rộng lớn để có thể qui tụ được nhiều người đến nghe Lời Chúa. Tôi không xin ai giúp v́ trước đây tôi có xin bà con cùng làm mấy gian nhà trường và tôi có xin Cha Phán giúp ngói. Nhưng chính quyền tịch thu nói đó là dân muốn làm nhà thờ.


AMI' NIÊM: Trước khi chồng tôi bị bắt đi cải tạo, tôi bị đau nhiều lắm. Không c̣n biết ra sao nữa. Sống chết không biết thế nào. Cho đến khi tôi đi thăm anh ấy ở trại cải tạo. Thấy anh ấy đang vác gạch đỏ cả vai, tôi khóc gào lên. Tôi cũng cám ơn Chúa cho anh được chịu khó. Anh ấy đi cải tạo được một tháng th́ tôi lành bệnh. Tôi tin rằng Chúa chữa lành tôi. Tôi đi cầy, đi bừa, chặt cây một ḿnh tôi thôi. Tôi biết cầm cái ŕu sáng đi đốn cây, chiều chở bằng xe ḅ về nhà làm hàng rào.


Dân làng thấy th́ nói: "Đúng là có Chúa ở cùng chị. Trước đây đau yếu, chết đi sống lại như thế mà bây giờ chồng chi đi cải tạo th́ chị lại mạnh khỏe như thế!" Thật là tôi được mạnh khoẻ làm ra lúa gạo. Cho đến khi chồng tôi được về. Khi anh ấy về đă thấy nhà có hàng rào đầy đủ cao ráo cả hai mảnh vườn. C̣n bây giờ mỗi khi phải đi lấy Ḿnh Thánh Chúa hay phục vụ ngày Chúa Nhật mà thấy anh ấy than: Mệt quá! Hôm nay nghỉ không đi làm việc Chúa nữa - là tôi nói: "Việc Chúa làm sao mà nghỉ được? Anh mệt th́ cứ đứng lên, ra đến đường là anh sẽ khỏe. "

 

 CHỨNG TỪ CỦA AMÍ QUANG


[Lc 10, 21] : Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Yêsu hớn hở vui mừng và nói: "Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, v́ Cha đă giấu kín không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng lạy Cha, v́ đó là điều đẹp ư Cha."



Người ta thường gọi tôi là amí Quang ở làng Bon Kting, Krong Pa. Trước kia tôi là một phù thủy và là bà đỡ của Jrai mặc dù tôi không biết chữ. Tôi được nhận vào dự ṭng năm 1992. Con tôi Quang đi t́m đạo trước, nó đi học xa rồi nghe Ama Hiếu nói về đạo. Nó họp cầu nguyện với Ama Hiếu 2 tuần rồi về kể với tôi rằng: "Mẹ ơi, đi họp cầu nguyện với đạo Công Giáo vui lắm, nghe lời Chúa hay lắm mẹ à!"


Nhưng tôi không muốn v́ thấy họ sinh hoạt nhiều quá, một tuần đến mấy ngày. Nhưng sau 2 tuần th́ tự nhiên tôi lại thấy thích, thấy xúc động muốn đi. Lúc này tôi lại bị bệnh táo bón. Tôi vào đạo mà vẫn chưa hiểu ǵ cho đến năm 1992 khi sinh con bé út rất khó khăn, tôi vẫn chưa biết cầu nguyện nhưng cũng không dám cúng Yang. Sau đó, tự nhiên tôi học thuộc được ngay kinh Tin Kinh, Lạy Cha và Kính Mừng mà anh nhóm trưởng dạy và thích cầu nguyện. Tôi được chọn chính thức vào dự ṭng. Rồi được nhận phép D́m năm 1995, rước Ḿnh Thánh Chúa nhưng về th́ uống rượu ngay, thật là không phải.


Gia đ́nh tôi không có biến đổi ǵ, cứ sống như thói cũ cho đến năm 1997, lúc Amí H'Hning đến cầu nguyện cho người khác nhưng tôi lại được ơn gặp gỡ Chúa Yêsu. Đêm đó tôi mơ thấy h́nh Chúa Yêsu và Chúa bảo đừng uống rượu và hút thuốc th́ sẽ có thai và sinh con trai. Nhưng tôi nói là tôi không sinh được v́ tôi đă triệt sản rồi. Nhưng Chúa bảo hăy nh́n vào bụng bà. Tôi nh́n và thấy bụng ḿnh đúng là đang mang thai. Tôi mừng rỡ và cảm tạ Chúa rối rít.


Sau đó amí H'Hning đến và cầu nguyện với nhóm của bà, chưa cầu nguyện cho tôi nhưng tôi lại được ơn; tôi bị rối mù rối tung lên; hai người mặc áo đỏ th́ bảo tôi ngửa tay lên, 2 người mặc áo trắng th́ bảo tôi úp tay lại. Họ làm tôi rối loạn, 20 ngày tôi cứ qùy không ăn uống. Có tiếng bảo tôi đọc kinh Tin Kính, 50 kinh Kính Mừng tính bằng ngón tay, nói tiếng lạ, cầu nguyện ơ Yêsu, Maria, Yuse. Mỗi khi nghe có tiếng bảo là tôi lại chạy đi cầu nguyện cho người ta. Gia đ́nh và mọi người bỏ rơi tôi, cho rằng tôi bị điên.

Tôi nghe nghe tiếng mắng tôi đồ khốn nạn đứng lên, đốt lửa. Tôi đứng lên t́m mọi người nhưng chả có ai v́ đă 20 ngày rồi nên không ai c̣n sức để canh tôi nữa. Mọi người đến cầu nguyện cho tôi đều thấy rơ những ǵ đă xảy ra cho tôi. Tôi qùy 20 ngày như thế là để đền tội lỗi của tôi. Tiếng đó bảo tôi phải xưng thú tội lỗi của ḿnh ra trước cộng đoàn, thứ nhất là hỗn xược với chồng, thứ 2 là không biết thương xót, tha thứ cho người có lỗi và thứ 3 là giết trẻ con trong bụng mẹ. Sau đó tiếng nói dạy tôi phải làm 7 điều, thứ nhất là từ nay về sau phải yêu thương giúp đỡ người nghèo, người đau yếu. Sau đó tôi hết hẳn không c̣n như bị điên nữa. Tôi không hiểu chuyện ǵ đă xảy ra cho tôi, tôi không muốn bị coi là điên. Tôi chạy đến gặp Cha Phán để xin Ngài giúp đỡ. Từ đó về sau tôi siêng năng đi cầu nguyện và giúp đỡ mọi người. Và cả gia đ́nh tôi đều biến đổi.


Nhưng ngay sau khi gia đ́nh chúng tôi trở lại và tôi được ơn lạ đó th́ Chúa thử thách ngay, chồng tôi bị bại chân phải lên nhà BS. Vinh ở để chữa trị. BS Vinh nghĩ là phải cưa chân nhưng rồi Chúa lại chữa khỏi cho chồng tôi. Nhưng tiếp đến con gái tôi 12 tuổi bị đau trong lúc tôi đi cầu nguyện xa làng, lúc về thấy cháu đau nặng,tôi đưa cháu lên Chereo đến nhà Y tá Thanh tiêm thuốc th́ bị chết luôn. Tôi rất buồn nhưng tôi lại mơ và nghe thấy tiếng nói rằng đừng buồn phiền v́ con tôi đi học. Tôi nói rằng con tôi đau không đi học được nhưng tiếng nói bảo rằng đến trường người ta sẽ chữa cho, đừng có lo. Nên sau đó gia đ́nh tôi không c̣n buồn phiền nữa và cố gắng đi cầu nguyện sinh hoạt. Làng chúng tôi hiện nay có khoảng 300 người theo Chúa và ngày Chúa Nhật th́ mọi người đến phụng vụ Lời đông đủ, các ngày khác trong tuần th́ khoảng 60 người tham gia thôi v́ chúng tôi cầu nguyện lúc 3 giờ sá

 

 Chia Sẻ của BÁC SĨ NGUYỄN NGỌC VINH



Kính thưa quí Cha, quí Thầy cùng tất cả quí vị !

Được sống và làm việc với các Linh Mục Thừa Sai Tây Nguyên và bà con dân tộc Jrai trong 12 năm là niềm hạnh phúc mà tôi đă bằng mọi cách để chiếm lấy

RA ĐI


Tôi là Giu-se Nguyễn ngọc Vinh, tốt nghiệp bác sĩ tại trường Đại học Y khoa Huế, năm nay đă ngoài 40. Sinh ra và lớn lên trong một gia đ́nh Công giáo thuộc giáo xứ Trà Kiệu, Duy Xuyên, Quảng Nam. Một xứ đạo toàn ṭng, được biết như một giáo xứ tiên khởi của Giáo Phận Đàng Trong, v́ thế từ rất bé tôi đă được ông bà cha mẹ dạy dỗ : "là một người có đạo th́ được làm những ǵ, không được làm những ǵ". Thiên Chúa mà tôi được rao giảng là một "Thiên Chúa đầy quyền uy, nghiêm khắc, thưởng phạt công minh". Tôi thờ phụng Thiên Chúa v́ sợ nhiều hơn là v́ yêu. Ngài thuộc về quá khứ và tương lai nhiều hơn hiện tại. Thiên Chúa của tôi có cái ǵ đó "bất ổn" tôi khao khát vị Thiên Chúa của T́nh Yêu và B́nh an, Ngài sống và đồng hành với tôi, để cho tôi được sống và sống dồi dào.


Năm 1991, bạn tôi cô Nguyễn Thị Diễm Ly từ Tây Nguyên về Huế. Trước khi quyết định lên phục vụ dân tộc Jrai, Ly đến gặp tôi và kể cho tôi nghe về dân tộc Jrai, về nhóm Linh Mục Thừa Sai DCCT. Lần đầu tiên trong đời tôi được biết đến những con người đơn sơ mộc mạc "những vị Thừa Sai sống với dân, sống như dân." Tôi khâm phục vô cùng !


Cuối năm 1991, Cha Gio-an Bao-xi-ti-ta Nguyễn Văn Phán, lúc bấy giờ là Bề Trên nhóm Plơi Kly, gởi thư mời tôi giúp anh em Jrai. Đồng thời Ngài cũng gởi cho tôi 3 cuộn băng cassete ghi âm cuộc nói chuyện của 3 vùng Plơi Chuet, Plơi Kly và AyunPa về các vấn đề xă hội mà nhóm Plơi Kly và người dân trong vùng đang phải đối mặt. Đó là cái đói, cái dốt và bệnh tật. Tôi phân vân không biết phải trả lời Ngài như thế nào ! Bởi v́ tôi được trường Đại Học chọn làm bác sĩ nội trú Bệnh Viện Trung Ương Huế. Tôi tâm sự với anh tôi là linh mục Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thịnh. Anh tôi trầm ngâm, cuối cùng Ngài nói : "Tùy em !".


Mùa hè năm 1992, Cha Phán đến tận Trà Kiệu như một sứ giả xác nhận ư Chúa. Không do dự đắn đo, vất bỏ mọi sự tôi theo Ngài ra đi, đi về Núi Thánh.

Kính thưa quí Cha, quí Thầy !


Vô tri bất khả mộ ! có những việc nghe thôi chưa đủ, biết thôi chưa đủ" mà phải thấy, phải đụng chạm th́ mới "ngộ".


Theo chân Cha Phán tôi lần lượt thăm ba vùng truyền giáo. Vùng Plơi Chuet của Cha An-tôn Vương Đ́nh Tài, vùng Plơi Kly của Cha Giu-se Trần Sĩ Tín, cuối cùng là AyunPa - Tơlũi. Tại đây tôi dừng lại và dựng lều cho ḿnh.

Sự hội nhập của tôi không suông sẻ, gặp nhiều khó khăn :

Tháng 04-1993 đến tháng 08-1993 : tôi ở cùng Cha Phán, khám chữa bệnh cho dân. Tháng 08 năm ấy, bị công an trục xuất.

Tháng 09-1993 đến tháng 10-1993 : "ẩn dật" tại PleiKu dưới sự che dấu của các ân nhân là Cha Qui, Cha Thượng và các xơ Phao-lô. Ngày sống trong buồng, đêm ra ngoài hít thở khí trời"

Tháng 11-1993: sống cùng Cha Trần sĩ Tín. Được Sở Y Tế và Tổ Chức Chính Quyền Tỉnh cho làm việc tại trạm Y Tế xă Nhơn Hoà. Chỉ được 02 tháng !

Cuối tháng 05-1994: , bị điều về "quản thúc" tại bệnh viện huyện Chư Sê cho đến nay. Với lư do là bác sĩ Thiên Chúa giáo, nói được tiếng Jrai, có liên hệ mật thiết với các ông Cha bà Xơ và tổ chức nước ngoài.

 

TÔI ĐĂ THẤY G̀  


1.Chân dung các linh mục thừa sai DCCT Tây nguyên :

 

Không có ǵ cảm động hơn khi nh́n thấy các Cha sống trong cảnh nghèo hèn như một "người dân b́nh thường, nhưng không tầm thường."
Ḍng họ tôi có duyên với việc tu đạo. Hai người em của Bà nội tôi là linh mục ( Cha Phan văn Hoàng và Cha Lê Như Hảo ). Cô tôi là Bề Trên Giám Tỉnh ḍng Phao-lô ( Xơ Sainte Jean Anh ). Anh con bác tôi là linh mục ( Cha Thịnh ). Tôi đă quen nh́n các cha trong phong thái đĩnh đạc, đạo mạo. Nhất cử nhất động đều có người đưa đón phục vụ.

 

Tôi thực sự sửng sốt khi thấy các Cha DCCT sống hết sức đơn sơ, nghèo nàn. Trong 3 vùng chỉ có ngôi nhà của Cha Phán, ơn trời nhờ có Chị Liên, cháu của Cha giúp nên ngăn nắp và sạch sẽ.


Nhà bác Tài là một nhà cấp bốn. Trông giống như một cái kho hơn là nhà ở. Lầu chẳng ra lầu, trệt chẳng ra trệt. Tôi đă đă nhà Bác nhiều đêm, và đêm nào cũng bị chuột tấn công.


Nhà Cha Tín c̣n tệ hại hơn. Nhà tôn vách gỗ dựng từ những năm 70. Không điện không nước, nắng th́ nóng như thiêu, mưa th́ dột. Một hôm ngửi thấy mùi hôi thối bốc ra từ pḥng Ngài, chúng tôi vào dọn pḥng, cuối cùng phát hiện 3 chú chuột đă chết, xác trương ph́nh lên, lúc nhúc gịi bọ. Ngay trên đầu giường, thế nhưng Cha Tín nhà ta bao nhiêu ngày qua vẫn ngủ ngon lành !

 

2. Cha An-tôn Vương Đ́nh Tài : vị Thừa Sai cầu nguyện

 

Tôi không được ở gần Bác, nhưng mỗi lần vào thăm Bác tại Plơi Chuet tôi gặp sự b́nh an. Bao giờ cũng vậy, Ngài bắt tôi qú xuống và đặt tay cầu nguyện. Chỉ vào thời gian sau này, khi ngài bắt đầu quên, biểu hiện chứng bệnh thoái hoá năo, Ngài mới bỏ thói quen đó.


Bác là con người hiền hậu đơn sơ. Không ai có thể giận bác ! Chú Phán là người nóng tính nhất nhóm cũng không thể giận Bác được lâu. Khi có sự bất hoà, chính Bác là người chủ động làm hoà. Cử chỉ hay gặp là Bác vỗ vỗ vào vai và nói : "Café ngon lắm, ta pha uống đi !", hoặc "Ta ăn quán đi ! Bác đăi".

Chú Phán nhiều lần nói với tôi : "Bác là người được ơn hoà giải !". Những nố bất hoà trong cộng đoàn, Ngài nói : "Chỉ có Bác Tài mới giải được !".

Nhiều lần tôi khám bệnh cho Bác. Bác bị viêm đại tràng nhiều năm, nhưng chẳng bao giờ chịu dùng thuốc. Có nhiều thuốc tốt của hội Hột Lúa Pháp giúp, tôi để dành cho Bác. Thế nhưng có ai đến xin, Bác cho cả. Tôi trách Bác, Bác không nói ǵ. Tay cầm tay Bác dẫn tôi ra vườn chỉ vào cây Hoàn Ngọc và nói: "Bác dùng lá cây thuốc này, tốt lắm !".

 

Bác là con người như vậy ! không giữ lại ǵ cho riêng ḿnh. Tôi nghe Amĩ Yanar kể lại : một hôm có người lên thăm Bác, thấy bác già yếu muốn giúp Bác một chiếc xe hơi. Bác trả lời : "Hăy cho tôi số tiền của anh. Tôi sẽ mua mười chiếc xe máy cho dân tôi đi làm việc Chúa".


Xin Bác tiếp tục cầu nguyện cho chúng con.

 

3. Cha Gio-an Bao-xi-ti-ta Nguyễn Văn Phán : vị Thừa Sai nhiệt thành


Chú Phán là người dẫn dắt những bước đi đầu tiên của tôi đến với anh em Jrai. Ngài là con người uyên bác, thẳng thắng và thương dân vô cùng.

Dân từ nơi xa về, bất kể đêm hôm, ai cần là Ngài sẵn sàng ngay. Khi th́ xin giải tội, khi th́ có người đau ốm, khi th́ khó khăn xin mượn tiền. Ngài chu đáo lo cơm nước, chỗ ăn chỗ nghỉ. Ai đó vô ư xúc phạm đến Jrai là Chú "nổ" ngay, dù người đó bất cứ là ai. Ngay cả bà cô Giám tỉnh của tôi cũng bị Chú nói như tát nước vào mặt. Chỉ v́ luật của ḍng nữ đ̣i buộc đúng giờ đúng giấc nghiêm ngặt, nhưng làm việc với Jrai th́ không lúc nào cũng đúng giờ !

Ngài là người làm việc không biết mệt mỏi. Lĩnh vực nào ngài cũng lao đầu vào :,b>"nông nghiệp, giáo dục, văn hoá". Ngài là người có công rất lớn trong việc "dịch thuật Kinh Thánh, sưu tầm văn hoá Jrai"


Làm việc với Chú Phán không tránh khỏi tranh căi. Thông thường Chú là người phác thảo kế hoạch. Tôi, anh Ngọc, chị Liên và cả Diễm Ly nữa bàn bạc, tranh luận" thậm chí căi nhau. Cha con b́nh đẳng tŕnh bày, bảo vệ ư kiến của ḿnh. Thỉnh thoảng có ǵ trái ư Chú hét toáng lên, đập bàn đập ghế. Nhưng đừng v́ thế mà sợ, mà nản chí. Vài ngày sau Ngài sẽ xin lỗi ngay. Trong khi làm việc, ai đúng Ngài sẽ theo, và cứ như thế tự do mà làm không phải hỏi han ǵ nữa"


Bề ngoài Ngài là người nóng nảy, nhưng bên trong Ngài rất nhạy cảm, biết chăm lo cho người khác. Cha Trần sĩ Tín vẫn thường nói với tôi : "Anh ấy nhậy lắm, phản ứng nhanh lắm ! Về mọi phương diện Cha Phán là thầy tôi".

Có ai ốm đau hay gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, ngài t́m mọi cách để giúp. Chữa tại chỗ không được th́ đi Plei Ku, PleiKu không được th́ vào Sài g̣n, cùng đường th́ thôi. Tính cách của Cha Phán là vậy : mọi sự Ngài luôn đi đến cùng !

 

4. Cha Giu-se Trần Sĩ Tín: Vị Thừa Sai khôn ngoan, sự khôn ngoan của Thiên Chúa "18 năm ṃ cua bắt ốc và chài lưới, không muốn nói. 16 năm buộc phải nói nhưng lại muốn nghe, muốn nh́n nhiều hơn" Cái vô vi trước Đạo của Lăo tử - có lẽ gần với anh nhất chăng !"

Tôi hoàn toàn đồng ư với Cha Tô-ma Nguyễn Văn Thượng nhận xét như vậy về Chú của tôi: Cha Giu-se Trần Sĩ Tín. Cha Thượng sẽ yên tâm hơn về nhận định của ḿnh nếu thấy h́nh ảnh một Cha Tín năm 1993, mặc bộ đồ bà ba màu nâu sồng, tập thái cực quyền trong sương mai. Ngài là con người đậm đặc chất phương Đông, cái triết lư phương Đông đẵm sâu trong suy nghĩ, trong tính cách của Ngài. Ngài c̣n là một người Jrai. Jrai hơn cả Jrai, như anh chị em thường nói.


Nhiều người trách Ngài, bản thân tôi ban đầu cũng trách Ngài lạnh lùng. Nhưng sống lâu với Ngài tôi càng khâm phục và yêu thương Ngài.


Tương phản với Cha Phán, Chú Tín không biết lo cho ai, không muốn dạy dỗ ai và không bao giờ sai khiến, ra lệnh một ai cả. Ngài thú nhận : "Tôi là con mồ côi cha, từ nhỏ đă vào nhà ḍng" tôi không biết cách phải lo cho người khác như thế nào !". Ngài giàu t́nh cảm nhưng không biết phải thể hiện t́nh cảm ấy thế nào cho phải đạo.


Có lẽ tôi là người diễm phúc nhất được Cha Tín dạy dỗ. Ngài dạy tôi nhiều điều và theo cách của Ngài.


- Học tiếng Jrai ư ?
- Đi vào làng"
- Học hỏi phong tục tập quán ư ?
- Đi vào làng"

Rất dễ tự ái nhưng tôi đă không tự ái ! Ngài là bậc cha chú của tôi, hơn nữa "Kỳ nhân dị tính" có ǵ là lạ.


Sau giai đoạn học tiếng, Ngài bắt đầu dạy tôi cách ứng xử và cũng dạy theo cách của Ngài.


- Anh nghe người ta nói thế này thế nọ về người này người kia ư ?

- Chính mắt anh có thấy không, chính tai anh có nghe không ?

- Cám ơn Cha đă giúp đỡ con !

- Đừng cám ơn tôi. Hăy cám ơn Chúa !

Cái ǵ Jrai ăn được th́ Ngài ăn được. Châu chấu, cào cào, ṇng nọc, sâu bọ, thằn lằn, rắn rết "cái ǵ nhúc nhích được” là ăn được. Và món ǵ Ngài cũng khen ngon cả !


Khi được Đức Cha Phê-rô Trần Thanh Chung hỏi :


- "Cha đă làm ǵ để người Jrai trở lại với Chúa ?".
Cha Tín thưa :
- "Con chẳng làm ǵ cả !".

 

Nghe thế Cha già Ánh giáo phận Kontum mỉm cười và nói nhỏ vào tai Cha Tín:
- "Thánh nhân đăi kẻ khù khờ".

Đó là sự thật : "Cha Tín không nghĩ ra điều ǵ, không làm điều ǵ ngoài những điều Thiên Chúa tỏ hiện trong dân, trong cộng đoàn. Ngài luôn luôn đi sau và giẫm lên dấu chân Đức Ki-tô. "

 

THAY CHO LỜI KẾT:


Tạ ơn Chúa đă cho chúng con được sống, làm việc với anh em Jrai và nhóm Linh Mục Thừa Sai DCCT Tây Nguyên. Chúng con đă sống như một gia đ́nh: "đầm ấm, yêu thương, giúp đỡ" lẫn nhau.


Chúng con đă được nếm mùi vị ngọt ngào của một ngày làm việc. Sáng cầu nguyện chung với nhau; sau đó mỗi người ra đi theo sứ vụ của ḿnh; chiều tối cầu nguyện dùng bữa chung với nhau; và tranh nhau kể lại chuyện Chúa làm trong ngày. Các Cha đă d́u chúng con bước vào đại gia đ́nh của Đức Kitô.

 

Tạ ơn Chúa ! Halleluia !

 

 CHỨNG TỪ CỦA WA H' BEM

 

[1Cr 9,16] "Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lư do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!"


Anh Siu Bloach là một trong những người bị bắt buộc như thế.


Tôi tên là Siu Bloach, c̣n gọi là Wa H'Bem. Sinh năm 1948 tại Plei Hrai'-Dơng, Nhơn Ḥa, Chưsê, Gialai.


Trước 1975, tôi là phó ty Phát Triển Sắc Tộc tỉnh Gailai. Tôi đi cải tạo 12 năm (1975-1987) và nhận Bí Tích Thanh Tẩy trong trại cải tạo năm 1978.


Từ nhỏ tôi đă theo bạn bè đi nhà thờ Công Giáo và Tin lành chơi. Tháng 3/1975 cha Deschamp làm phép chuẩn cho tôi và vợ tôi v́ tôi hứa sẽ theo đạo ngay khi gia đ́nh vợ tôi là người Bahnar yêu cầu. Tôi vẫn đi lễ nhưng trong ḷng trống rỗng, chả hề cảm nghiệm ǵ cả.


Khi ở trong trại cải tạo, tôi cùng đường, tuyệt vọng, sự nghiệp và ước mơ tiêu tan! Tôi ao ước được Thanh Tẩy v́ nghĩ rằng nếu trở thành con cái của Chúa th́ Ngài sẽ cứu thoát tôi khỏi cảnh tù đày. Tôi hỏi 1 người bạn và cũng là anh em kết nghĩa của tôi là người đạo gốc Bahnar rằng: "Muốn được thanh tẩy tôi phải học kinh nào? Giáo lư căn bản nào?" Anh ta trả lời: "Trước hết phải thuộc các kinh Tin Kính, Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh và kinh Cáo Ḿnh" Anh ta viết cho tôi tất cả bằng tiếng Bahnar và tôi học thuộc ḷng nhưng chả hiểu, chả nghiệm ǵ. Thế rồi tôi cũng được cha Nguyễn B́nh Tĩnh thanh tẩy nhưng chưa kịp nhận phép Thêm Sức th́ cán bộ ập vào nên phải giải tán. Sau đó, tôi lại học kinh bằng tiếng Jrai. Trong trại, ngoài Kinh Thánh chúng tôi chả có sách ǵ khác nên chúng tôi phải học giáo lư bằng cách là đọc Lời Chúa phù hợp cho mỗi hoàn cảnh, trường hợp của từng người gặp để xin Chúa cứu thoát.


Chúng tôi tổ chức trong trại như thế này: quyển Kinh Thánh chúng tôi xé rời ra theo từng loại như Tin Mừng Matthêo, Marcô, Luca, Yoan, các thư, rồi phân phối cho các pḥng. Mỗi pḥng có 1 anh nhóm trưởng. Mỗi đêm tùy theo trường hợp có thể cầu nguyện chung hay riêng nhưng 1 tuần có 1 lần nhóm cầu nguyện chung để rước Ḿnh Thánh. Nhóm trưởng vừa là người điều hành nhóm vừa là người hướng dẫn cho những ai muốn học hỏi, t́m hiểu đạo.


Bây giờ nghĩ lại tôi mới nghiệm ra rằng ChúaThánh Thần đă dùng 12 năm trong tù để huấn luyện chúng tôi. Không có trường lớp, giáo án ǵ ngoài quyển Kinh Thánh. Nhờ thế mà chúng tôi không ngỡ ngàng khi phục vụ Lời cho các cộng đoàn nghèo khổ và mù chữ sau này.


Năm 1987, khi tôi được thả về th́ cả vợ con tôi đều đă bị bệnh mà chết hết. Mẹ tôi t́m cho tôi một người vợ khác ngoại đạo. Tôi không gặp bạn bè và cố gắng bỏ đạo, tôi không đi nhà thờ hay làm quen cha Tín. Tôi không hề có ư phục vụ cộng đoàn v́ cũng như nhiều người thường nghĩ: việc cộng đoàn, việc loan báo Tin Mừng là việc của mấy ông cha bà xơ, c̣n giáo dân th́ chỉ ngồi nghe và làm theo thôi.


Nhưng Chúa lại có cách nghĩ khác và Ngài đă kéo tôi lại, cuối cùng tôi và vợ tôi cũng phải học để hợp thức hoá và chịu phép Thêm Sức. Trong làng Plei Hrai Dơng chúng tôi có 1 nhóm nhỏ 10 người (năm 1988), có đêm chúng tôi lần hạt, có đêm th́ đọc Lời Chúa và cầu nguyện cho nhau do tôi chủ tŕ. Bà con khác nghe rồi đến xem và xin theo đạo. Tôi không biết sao đành phải gặp cha Tín để hỏi cho họ học những ǵ.


Cha bảo : "Cứ đọc Kinh Thánh và cầu nguyện theo Kinh Thánh. Trước mắt cứ như vậy sau này sẽ có bài theo tŕnh tự dành riêng cho những người dự ṭng" Chúng tôi làm theo vậy. V́ tôi là người biết chữ, theo đạo hơi lâu nên bà con nhờ gặp cha để hỏi việc này việc nọ nên dù không muốn gặp cha th́ cũng phải gặp, không muốn quen cha cũng phải quen. Ṛng ră như thế đă 17 năm, nghĩ lại tôi thấy thật tức cười, tôi đă thành “người phục vụ cộng đoàn lúc nào mà tôi cũng không biết" Nhưng cũng nhờ đi phục vụ Chúa mà tôi được gặp gỡ, quen biết nhiều người và đi được nhiều nơi, được nhiều người qúi mến.


Tôi thấy Chúa đă làm như thế này trong cộng đoàn Jrai:


Ban đầu khi số người theo đạo c̣n ít th́ đích thân Cha Tín đi bộ hay đi xe đạp vào làng hướng dẫn Lời Chúa. Nhưng khi đă đông người theo th́ chính Akó Khul (trưởng cộng đoàn của từng làng) hướng dẫn. Cũng chả ai bầu hay đặt để họ lên, họ chỉ có việc mà không có chức. Bà con và Cha tin cậy giao việc th́ làm. Họ là người điều hành và giảng hoà trong cộng đoàn, là người liên lạc giữa cha và cộng đoàn.


Người dân tộc Jrai chúng tôi đa số ít học, nghèo khổ thiếu thốn đủ điều, nhưng tôi xác tín rằng nhờ Kinh Thánh qua Chúa Thánh Thần hướng dẫn mà chúng tôi biến đổi, có được sự thông suốt, hiểu biết, khôn ngoan và ḷng can đảm yêu thương như hiện nay. Chúng tôi chỉ nghe Lời Chúa và cầu nguyện theo Lời Chúa. Và chỉ có Chúa mới cứu vớt, đ̣an kết được dân tộc chúng tôi với nhau và với các dân tộc khác.


Khi trở lại đạo chúng tôi biết t́m lại những cái hay cái đẹp trong cội nguồn Văn Hoá của tổ tiên chúng tôi. Nếu có những tranh chấp, bất hoà th́ biết kêu gọi tha thứ, giải hoà theo Lời Chúa. Gắng dạy dỗ con cái lo học hành. Cùng nhau lo ma chay hay cưới hỏi trong cộng đoàn.


Người ta muốn dân tộc Jrai này phải bị đồng hoá hay diệt vong bằng nhiều cách nhưng chúng tôi được Hội Thánh quan tâm và thương yêu. Chúng tôi được hiện diện tại La Vang, tại Phát Diệm, Ninh B́nh, trong ngày Ḍng Chúa Cứu Thế mừng 70 năm lập ḍng tại VN ở Saigon. Chúng tôi được mời tŕnh bày trong những hội thảo toàn quốc tại Huế...Đó không phải là Chúa Cha đang hướng dẫn và giới thiệu chúng tôi với người khác sao? Khi trở lại trong cộng đoàn Hội Thánh, chúng tôi đă được sống lại, sinh lại, đă t́m lại được sự tự tin và thấy ḿnh cũng thật sự là người như bao dân tôïc khác. Chúng tôi cũng có được vị trí trong cộng đồng quốc gia Việt Nam.


Chúng tôi tự hào được gia nhập vào thân thể mầu nhiệm của Hội Thánh, là con cái của Hội Thánh. Chúng tôi không c̣n cảm thấy bị lẻ loi, cô độc. Chúng tôi tự hào vào Hội Thánh mà chúng tôi đă chọn lựa và đặt tất cả tin tưởng, phó thác của dân tộc ḿnh cho Hội Thánh. Chúng tôi không chỉ mong được cứu thoát linh hồn mà c̣n mong cứu thoát sự sống c̣n của dân tộc Jrai này.


Các cộng đoàn cần được nuôi dưỡng thường xuyên để trở thành những người phục vụ cánh đồng của Chúa, vườn nho của Chúa. Chúng tôi cần được bồi dưỡng. Nhưng v́ người Jarai Chúa đă tạo dựng có một ngôn ngữ riêng, một tâm hồn riêng nên những người đến giúp chúng tôi cần phải biết ngôn ngữ ấy, biết tâm hồn ấy mới có thể giúp chúng tôi, nuôi dưỡng chúng tôi một cách có hiệu quả. Mong thay các cha, các thầy là những người sẽ tiếp nối nhóm PleiKly, cũng sẽ tôn trọng Văn Hoá của dân tộc chúng tôi; cũng sẽ yêu thương, hoà đồng, nói được tiếng nói của chúng tôi, cùng ăn chung lá ḿ, cùng uống chung trái bầu với chúng tôi như các cha, các thầy trước đây. Chúng tôi đang cần những người đồng hành để xây dựng một Hội Thánh Jrai, chứ không phải một Hội Thánh của người Kinh hay người Tây, người Mỹ nào. Có như thế, chúng tôi mới hy vọng làm rực rỡ thêm vườn hoa muôn sắc của Hội Thánh trần thế và Hội Thánh Thiên Quốc.