NHỮNG NẺO ĐƯỜNG VIỆT NAM

(tiếp theo và hết)

Cvk50 Nguyễn Văn Khải

 

Là người Việt, tôi yêu đường muôn nẻo

Đường thị thành, chật ních những cộ xe

Đường bùn lầy, đọng nước cảnh đường quê

Thơm mùi lúa, mùi rừng, tôi yêu cả.

Là Việt Nam, tôi yêu đường muôn ngă

Từ thị thành măi đến tận Cao nguyên         

Nam bắc, tây đông làm mạch nối liền

Muôn tim dân Việt quyện thành một mối.

Là người việt tôi yêu đường muôn lối

Lối đi thương nhớ t́m lại lối về,

Thương thương nhớ nhó từng nẻo đường quê,

Đă ghi lại những ân t́nh muôn thuở.

 

Sau những ngày thăm Cao nguyên, vội đến và vội đi, sáng nay tôi về đến thành phố khi vừa nhộn nhịp chợ búa.  Tôi phải hoạch định chương tŕnh thăm viếng và hành hương đến Trà Kiệu và Lavang, trên đường thẳng ra thăm Hà Nội, để nh́n cho tận mắt những ǵ đă đổi thay.  Chúng tôi sẽ thuê bao một chuyến xe van 12 chỗ ngồi.  Minh em tôi đang làm trong ngành du lịch, nhân dịp đang chờ chuyến hướng dẫn sắp đến, sẽ là “tour guide” cho “phái đoàn” chúng tôi.  Ngày khởi hành sẽ là sáng Chúa nhật.  Chúng tôi đă chuẩn bị đầy đủ những thứ cần thiết cho chuyến đi.

 

Khởi Hành. Nha Trang


Sáng 7 giờ, sẽ khởi hành, ăn trưa dọc đường và đêm sẽ nghỉ tại Nhatrang.   Minh đă hẹn và sẽ cơm tối tại nhà Bài.  Trời hôm nay nắng tốt.  Khoảng đường Sài G̣n - Nhatrang có thể nói là “tốt” so với những đường Việt Nam. Xe có máy lạnh, tuy có gặp trục trặc đôi chút, nhưng đă chữa được, nên rất thoải mái suốt đường đi.  Tôi đă nói là đường tốt, nhưng chỉ so được với những con đường ở VN, chứ đem so với những đựng ở Au Mỹ, th́ chúng ta không biết phải xếp chúng vào loại nào.  Tôi cũng tội nghiệp và thương cho đất nước ḿnh: chiến tranh và nghèo.  Cơ sở hạ từng chưa có và không mấy quan tâm. Mỗi lần xe ngừng lại th́ mọi người chỗ kín nhất để “tâm sự” chuyện riêng tư.  Đàn ông th́ rất dễ, làm một công hai việc: tưới cây.  Nhưng đàn bà th́ bất tiện hơn, phải đi t́m chỗ kín đáo hơn một chút, nhưng cũng vui vẻ v́ nếu tưới cây không được th́ tưới cỏ.  Nếu muốn nâng cao ngành du lịch và lôi cuốn người ngoại quốc th́ nên”quan trọng hóa” và lưu tâm điểm nầy một chút.  Việc tưới cây, tưới cỏ ven lộ vốn không quen đối với người ngoại quốc, chỉ tạm chấp nhận cho những người VN vốn có nhiều kinh nghiệm trong nghề nầy.  Trên đường, tôi chú ư quan sát những biến đổi mới mà tôi phải nhớ lại thời gian xa xưa của mỗi cảnh vật.  Khu rừng lá ngày nay không c̣n có thể thấy những vết tich xa xưa, hoang vắng, mà đă biến thành “đường phố” đông đúc người tới lui.  Đổi thay quan trọng nhất là bây giờ không c̣n nơi nào là rừng vắng.  Tôi đă có dịp nói đến vùng Cao Nguyên, ngày xưa hoang vắng, ngày nay không c̣n chỗ chen chân.  Hễ nơi nào có đường là có người ở.  Suốt quảng đường từ Sài G̣n đến Nha Trang cũng thế, cũng nhà cửa rồi th́ phố xá nhộn nhịp.  Thỉnh thoảng chúng tôi dừng chân lại vài nơi được chỉnh trang đẹp đẽ cho mục đích du lịch để hít thở không khí trong lành hơn so với thành phố Sài G̣n, bụi bặm và khói xe.  Trên đường, nếu gặp những lúc đến và tan trường th́ vấn đế giao thông xem như chậm lại rất nhiều nếu không muốn nói đến nạn kẹt xe.  Nh́n những học sinh  dùng xe đạp để đi học, tôi thương buồn lẫn lộn.  Thương, v́ dân ta nghèo, phương tiện cho học sinh không có.  Mới đến 6, 7 tuổi là phải biết tự lo đến trường.  Ở những nước tiến tiến Au Mỹ, chính phủ chăm lo phương tiện cho các trẻ em học sinh từ mẫu giáo đến hết trung học, xe bus đưa đón, ăn trưa tại trường và nhiều điều khác nữa.  C̣n các em Việt Nam, một chiếc xe đạp để đi học là điều mơ ước lắm rồi.  Chừng nào người dân Việt ḿnh mới có thể ngẩn đầu lên hảnh diện và đứng trong hàng ngũ các nước tiền tiến trong mọi lảnh vực kể cả lảnh vực giáo dục. Buồn, v́ từ tấm bé, người VN ta không được hướng dẫn để biết tôn trọng các nơi công cộng.  Những giờ đến trường hoặc tan học, học sinh nghênh  ngang đi ngoài đường như chỗ riêng tư của ḿnh.  Các em đi xe đạp hàng tư hàng năm, thách thức xe cộ lưu thông.  Các em đi bộ cũng thế, thách thức, nghênh ngang và đôi khi c̣n inh ỏi la lối, ḥ hét.  Tôi có cảm tưởng giống như “nạn kiêu binh” vậy.   Tôi nói là từ tấm bé v́ đến người lớn, không mấy ai biết tôn trọng những ǵ thuộc về cho công cộng.  Những cảnh phơi lúa, đập lúa, phơi sắn trên xa lộ được xem là thường t́nh.  Có những lần tôi gặp những đàn ḅ hiên ngang, chậm bước trên những đường lộ đáng lư ra ưu tiên cho xe cộ lưu thông.  Và nhiều cái vân vân như thế.  Kế đến là việc thu tiền “toll” gọi là phụ phí tu bổ đường.   Thường ở những nước tiền tiến cũng có lệ nầy, nhưng khác ở chỗ là người trả tiền có sự lựa chọn đi hay không đi trên đường “toll” hay nói cách khác, phải có một đường khác để người ta đi nếu họ không muốn trả tiền.  Đường toll nhiều cho đến đỗi trung ương phải lên tiếng rằng:” Nhiều địa phương tự tiên thu lệ phí đường lộ.”  Thôi! Buồn thương vấn vương là được rồi.

 

Măi cắm đầu chạy mà quên phải “ngừng bước giang hồ” để lấy thêm “pao vơ”, anh tài hỏi:  

Muốn dừng lại ăn trưa ở đâu?

Anh biết rơ hơn chúng tôi chỗ nào ăn trưa tốt mà.  Chỗ nào sạch sẽ và ăn được th́ anh dừng lại. Chúng tôi tin tưởng vào anh, v́ lẽ dĩ nhiên anh biết nơi nào rồi.  Vào giờ nầy, những màn chiêu khách của các quán dọc đường cho người ra đứng ngoài đường “mời mọc, rũ rê”.  Bác tài cứ tự nhiên chạy thẳng đến quán của ḿnh h́nh như anh đă có “giao ước” với họ.

 

Bước chân vào quán, chúng tôi được họ quan sát từ chân đến đầu để đánh giá là Việt kiều hay là Nội địa. Phái đoàn chúng tôi, chỉ có 2 Việt kiều chính tông, phần c̣n lại là khó mà phân biệt v́ cũng ăn mặc gần giống như nhau.  Sau khi được chỉ định bàn ghế, và giải quyết vệ sinh, chúng tôi ngồi vào bàn.  Nếu là Việt kiều chính tông hết th́ đây là mức “ăn thua” v́ Việt kiều khó biết những thủ đoạn nhà nghề của họ.  Nhưng phái đoàn đặc biệt nầy bao gồm một tour guider chuyên nghiệp bên cạnh một tour guider phu nhân, th́ vấn đề giá cả chắn chắn không bị hớ cũng ăn ngon, cũng bia bọt, cũng thức ăn đặc sản nhưng giá cả chỉ bằng phân nửa với giá “nồ Việt kiều” lúc ban đầu.  Quả thật chúng tôi đă “thông minh” đặt “tour guider phu nhân” làm “quản lư” cho cuộc hành tŕnh nầy.  Không biết tin nầy có lợi ích cho người Việt kiều không muốn vung vải tiền qua cửa sổ không?   Sẵn dịp, tôi cũng xin nói về chiếc khăn ướp lạnh được mang đến, nếu dùng th́ tính tiền, không th́ không tính. Chiếc khăn xem ra rất vệ sinh v́ khăn được bỏ trong một bao nylon hàn kín.  Khăn mát và thơm (mặc dầu cái thơm b́nh dân) mang tươi mát cho người xử dụng.  Người xử dụng khăn xong có quyền mang theo v́ đă mua rồi.  Nhưng có nhiều khi khách dùng rồi và vứt bở lại th́ vấn đề bảo đảm khăn mới sẽ không c̣n v́ được có nhiều người chuyên thầu mua lại, giặt, ép thành b́ rồi đem bán lại cho các cửa hàng th́ vấn đề vệ sinh không mấy tin cậy nữa.  Cơm nước xong, quán bưng lên cho bác tài một ly cà phê sữa “free” thơm phứt gọi là tưởng thưởng công lao đưa khách đến cho họ.  

 

Lên xe, chúng tôi tự t́m giấc ngủ trưa ngon lành chưa từng thấy.  Trên đường dọc ven biển có tiếng sóng vỗ ́ ầm, chúng tôi được thưởng thức cảnh đẹp Việt Nam.  Tôi đă sinh ra và lớn lên trên đất nước nầy.  Ngày nay dầu ở phương trời nào Mỹ hay Âu, tôi vẫn nặng ḷng với quê hương, dầu nó ốm o nghèo khó đến đâu đi nữa.

 

Đặc biệt mùa nầy là mùa trái Thanh Long.  Các bạn ở VN, nhất là cao nguyên th́ không ai lại không biết trái thanh long.  Thanh long rất dễ trồng và chăm bón.  Ở Kontum người ta cứ việc đặt vài nhánh cây thanh long kề gốc mít hay cây nào có tàng lớn.  Thanh long sẽ men theo cây ḅ lên.  Có nơi nó phát triển mạnh làm cho cây phải chết ngộp.  Vùng Phan rang, ngày nay người ta làm vườn thanh long qui mô hơn nhiều.  Họ trồng những cây trụ vững chắc, cũng có thể xây gạch trụ rồi cho thanh long ḅ lên rồi tỏa ra, sinh hoa kết kết.  Đi ngoài đường nh́n vào những vườn thanh long thấy mát mắt và nguồn lợi thu vào chắc không ít.  Tôi nói là mùa thanh long, v́ ngoài đường chúng tôi thấy những những xe tải Honda (2 bánh) đang vận chuyển những giỏ chứa đầy những trái chín đỏ trông thật hấp dẫn.  Kế đến chúng tôi c̣n chú ư đến những hồ nuôi tôm ven bờ biển.  Nghề nuôi tôm được phát triển mạnh ở Việt Nam.  Những nhà có bờ biển th́ họ phát triển ngành nuôi tôm gia công nầy.  Nguồn lợi đáng kể nếu trúng.  Nhưng sự rủi ro xem ra cũng c̣n nhiều.  Có nhiều người trở thành trắng tay, nếu chẳng may tôm bị bệnh chết hết.  Đă nói là gia công, có nghĩa là thấy người ta làm th́ cũng bắt chước làm theo, vừa làm vừa học.  Kinh nghiệm có được thường giữ kín để thủ lợi.  Nếu tất cả đều may mắn trúng mùa tôm th́ rủi ro thứ hai lại đến là “rớt giá”, v́ cung vượt cầu.  Tôi miên man nghĩ đến nước Mỹ.  Tôi có những người bạn sống ở Biloxi (MS).  Biển nầy thuộc vịnh Mexico.  Đó là cái hồ nuôi tôm thiên nhiên của Mỹ chạy dài từ bang Florida đến hết Texas.  Gọi là nuôi tôm thiên nhiên v́ chính phủ chú ư đến “đời sống” của tôm, chu kỳ sinh sản, lớn lên, và trưởng thành.  Có những luật định rơ ràng: mùa đánh tôm và mùa cấm, cở tôm nào được bắt, cở nào không.  Ai vi phạm th́ bị phạt rất nặng.  Người Việt tại Mỹ, nhiều lúc không am tường nhiều về luật lệ v́ ít vốn liếng Anh ngữ, hoặc biết mà làm ngơ, nên đôi khi cũng làm lén nên bị phạt rồi lại đổ tôi cho người Mỹ kỳ thị.  Có một lần t́nh cờ khi đi thăm Port Athur tôi có đọc được tờ flyer lưu hành trong cộng đồng người Việt, phân tích việc pḥng ngư nghiệp dùng trực thăng để ra lệnh thả lưới cào tôm và giờ phải cất lưới.  Họ cho rằng đó là vi phạm trầm trọng quyền tự do và có ư nhắm vào cộng đồng Việt nam nên có tính cách kỳ thị.  Tôi được biết thêm v́ người Việt ta vốn cần cù làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm nên chạy 24/24 và 7 days/week. Người Mỹ họ không làm như vậy và có thể họ cho rằng người Việt ta quá tham lam chăng?  Tờ flyer cũng có ư mĩa mai chê người Mỹ lười biếng không chịu làm rồi thấy người ta làm rồi sinh ra ganh tị.  Họ kêu gọi mọi người cùng nhau đoàn kết lại để đưa sự kiên ra ṭa.  Đọc xong tôi lại vươn vấn nỗi buồn.  V́ thấy cái ǵ đó không ổn và lại không có th́ giờ để t́m hiểu thêm về luật lệ đánh tôm, tôi không buồn để ư đến màn kết cuộc của vụ kiện.

 

Việt Nam chúng cũng có rất nhiều hồ thiên nhiên để dưỡng tôm, nhưng chắc chắn không thể làm được v́ ai cũng đặt cái lợi cá nhân lên trên quyền lợi chung.  Đă có lần tôi có nghe người dân Phưong Quí (Kontum) nói với tôi rằng: “ Đập nước Yaly tạo nguồn cá lớn lao cho dân vùng Kontum.  Người ta ăn cá lớn c̣n cá nhỏ “xúc” vào để nấu cho heo.”  Wow! Chúng ta hết đường “binh” rồi.

 

Bây giờ đi lại vấn đề “rớt giá” khi được mùa “tôm”.  Người Việt ta ở phương trời nào cũng vậy khó mà hợp nhau lại để làm một cái ǵ.  Giá sử rằng những người nuôi tôm kết hợp với nhau thành một “nhóm” nếu không dám nói đến “công ty”, dùng kinh nghiệm của nhau và cùng nhau có một nhà máy tôm đông lạnh.  Khi được mùa chúng ta cùng bỏ vào đó tích trữ lại để bán khi thị trường khan hiếm.  Thật là lư tưởng.  Nhưng là lư tưởng th́ không bao giờ là sự thật cả.

 

Chúng tôi cứ đường tiến thẳng đến Nhatrang, có dừng chân lại vài nơi có phong cảnh tuyêt đẹp để hít vài hơi khí mát dịu của vùng trời bể và đồng thời cũng có vài tâm sự phải giải quyết.

 

Chúng tôi đến Nhatrang lúc vừa lên đèn.  Đời tôi có nhiều lần dừng chân lại thành phố Nhatrang.  Đă từng có những ngày buồn lếch thếch lang thang trong đường phố để quên đi nổi nhớ nhà trong những ngày tạm dừng chân ở trạm Nhập Ngũ II ở Thành. Cũng đă có thời gian gia đ́nh tôi đă sống đời sống tị nạn ở thành phố nầy trong những ngày buồn của Mùa Hè đỏ lửa.  Từ dạo đó đến giờ biết bao biến cố, biết bao đổi thay.  Chắc hẳn Nhatrang bây giờ rất khác lạ đối với tôi.  Chúng tôi ḍ đường t́m đến nhà Bài để báo cho Bài biết rằng chúng tôi đă có mặt tại đây.  Gặp Bài, mặc dầu là lần đầu tiên, tôi có cảm tuởng rằng chúng tôi đă quen nhau từ “bao kiếp trước”. Tay bắt mặt mừng, nói nói cười cười, tôi không thể nào quên những t́nh cảm chỉ có thể có trong “cái bang” CVK.   Khi đi chúng tôi có nghĩ đến hai giải pháp để trú đêm ở Nha Trang.  Nếu tiện, chúng tôi có thể ở nhà Bài, để anh em có th́ giờ hàn huyên cho đến hết chuyện nói.  Nhưng nếu có ǵ bất tiện th́ chúng tôi ở khách sạn.  Nhà Bài tuy ở đường chính, nhưng đường vào nhà, xe không lưu thông được.  Vả lại chúng tôi có đến 9 người th́ việc ngủ đêm ở đây khó tránh những phiền phức. Đến đây chúng tôi phải chọn khách sạn v́ xe hơi không có chỗ đậu, mặc dầu Bài mời chúng tôi ở lại đêm. Tôi nói với Bài là v́ chúng tôi đông, nếu chỉ một ḿnh bà xă và tôi th́ ở lại nhà Bài là một thích thú.  Bài nói:

-   Nhà tôi tuy không lớn lắm, nhưng có nơi tắm rửa và nghỉ ngơi trên gác.

Ḿnh cám ơn Bài và Chị nhiều v́ đă lo lắng cho chúng tôi, nhưng v́ chúng tôi đông quá, nên xin hẹn lại lần nào đó ḿnh đến đây 2 vợ chồng ở dài dài đến khi Bài chán không muốn chứa mới thôi.   

Nhưng tối nay ăn tối ở đây.  Phải đúng 7 giờ v́ sau đó là giờ kinh cầu nguyện cho nhạc mẫu.

-   Có thể trễ hơn chút được không?

-   Không! V́ chương tŕnh nầy đă định trước. Và chỉ có hôm nay ngày Chúa Nhật mới có dịp tụ họp thôi.

-   Thôi được rồi. Chúng tôi sẽ cố gắng đến đúng giờ.

 

Chúng tôi cám ơn Bài nhiều.  Chúng tôi biết giờ cơm tối có tính cách “quân luật” nghĩa là phải đúng giờ v́ sau đó là giờ cầu kinh cho nhạc mẫu.

 

Khách sạn ở Nhatrang đang mùa ế ẩm nên được mời mọc khắp đường ở Nhatrang.  Vừa bước chân vào thành phố th́ đă có người đi xe Honda kèm sát chúng tôi và đưa giấy khuyến măi với giá 120,000 VN (tương đương $8US).  Chúng tôi đi t́m đó khách sạn đó để xem thực hư thế nào. Khách sạn nầy vừa mới khánh thành nên tất cả đều mới. Chúng tôi hỏi giá cả.  Lúc đầu họ ướm với giá 200,000 VN gọi là để xem cựa Việt kiều hay khách nội địa.  Chúng tôi nói: “ sở dĩ t́m đến đây là do giấy khuyến măi mà chúng tôi nhận ở dọc đường.” Họ liền đồng ư ngay với giá 120 ngàn/pḥng. Theo đánh giá cá nhân của tôi th́ pḥng nầy cũng tương đương vơí những khách sạn 3 hay 4 sao ở Au châu mà chúng tôi đă có dịp biết đến qua dịp hành hương Năm Thánh 2000.  Chỉ khác là ở đây không có 2 bữa ăn tối sáng.  

 

Nhận pḥng, sắp xếp và tắm xong, chúng tôi đang t́m vài phút thư giăn. Chúng tôi lại liên lạc với Bài để xem có thể ăn tối chậm hơn chút chăng.  Nhưng Bài cho biết: -“ Không được!”.  Thế là chúng tôi lại lo sửa soạn để đi tới nhà Bài. Ở nhà Bài, anh Em CVK vùng Nha trang đă có mặt và bữa ăn tối đă được dọn sẵn.  Cũng như thường lệ, mặc dù đại gia đ́nh CVK đă không bao giờ gặp nhau, nhưng khi gặp mặt  ai ai cũng có cảm tưởng rằng ḿnh là anh em với nhau thân t́nh, cởi mở bằng những nụ cười, cái siết tay thân mật hay cười nói huyên thuyên vui như ngày tết. Các bà CVK với nhau cũng thế.  Chị chị, em em nghe nó ngọt làm sao đó!  Thế mới biết t́nh CVK là thiêng liêng kết tụ từ hồn thiêng của núi rừng Cao nguyên, tô thắm bao tâm hồn của những ai đă có một lần muốn đến đây để dấn thân phục vụ cho hồn thiêng của vùng nầy. Có phải hồn thiêng của Thánh Cuenot, của Jannin, của Sion, của Seitz, của bao linh mục Việt cũng như Pháp đi trước đă quyện lại và biến thành “linh hồn” của CVK không?  

 

Bây giờ đă đến giờ đọc kinh cầu hồn cho nhạc mẫu.  Nhiều người bắt đầu đến.  Mặc dầu chúng tôi chưa ăn xong, nhưng xin hoăn lại để sau giờ kinh chúng tôi sẽ bắt đầu lại.  Bàn ăn được tạm thời di chuyển để nhường lại làm nơi tụ họp để đọc kinh.  Chúng tôi lại được dịp tham gia buổi đọc kinh để cầu nguyện cho bà cụ.  

 

Buổi cầu nguyện xong.  Chúng tôi lại tiếp tục bữa ăn tối c̣n đương dang dở.  Bây giờ chúng tôi cảm thấy thời giờ không bị giới hạn nữa.  Tôi bảo anh tài xế và những người đi theo tôi về khách sạn trước và chỉ c̣n lại chúng tôi (Minh, Khải và 2 bà xă) vui vẻ với nhau cho đến khi thấy phải về ngủ để ngày mai tiếp tục lên đường hành hương.  Bài th́ cố mời chúng tôi ở lại chơi vài ngày.  Chúng tôi cũng muốn lắm, nhưng v́ Minh đă có chương tŕnh , nên chúng tôi không thể du di được.  Sau nầy, trong những e-mail Bài thường chế nhạo chúng tôi: “Vội đến vội đi như bị ma đuổi”.  Lời nói của Bài thật đúng như vậy, nhưng chúng tôi không biết phải làm sao hơn.  Hẹn với Bài lần khác nhé.

 

Quảng Ngăi

 

Lộ tŕnh hôm nay được ấn định:  Ngủ đêm ở Quảng Ngăi.  Tôi có nặng nợ với Quảng Ngăi lắm v́ đă có thời gian, tôi đă sống ở Quảng Ngăi khi tôi dạy học ở trường Đăng Khoa, Trà Câu.  Tôi có chương tŕnh ở lại đây qua đêm v́ tôi muốn đến thăm một người bạn rất thân thiết như anh em một nhà khi tôi lưu trú ở đó.  Từ Nha Trang đến Quảng Ngăi là khoảng cách tương đối dài, hơn một ngày đường.  Để tranh thủ, chúng tôi rời Nha Trang sớm và sẽ điểm tâm sáng ở dọc đường.  Từ Sài G̣n đến Nha Trang, đường tương đối tốt.  Nhưng bây giờ chúng tôi bắt đầu thấm thía đường ổ gà và bụi bặm. Xe chạy lúc nhanh, lúc chậm, đương chạy ngon trớn th́ lại thắng gấp.   

 

Đến đường trẽ quốc lộ 21 lên Ban mê thuột, th́ chúng tôi dừng lại ăn sáng.  Quán ăn nầy rất là tồi tệ so với quán chúng tôi ăn trưa hôm qua. Nhưng biết rằng ḿnh chỉ điểm tâm sáng, nên cũng không cần t́m những ǵ cầu kỳ, cao sang.  Ḿnh phải nếm tất cả để cho biết.  Điểm tâm xong, chúng tôi một mạch chạy đến Sông Cầu, Phú Yên để dùng cơm trưa.  Bữa cơm trưa tại Sông Cầu có thể nói là: hài ḷng.  Chúng tôi được nếm đặc sản canh chua, cà ḍn chấm mắm tôm. Quán ăn tương đối sạch, có pḥng vệ sinh và nước rửa cho khách.  V́ ở gần biển, quán được gió biển thổi mát tạo cảm giác thoải mái.  Ở đây, chúng tôi được biết là bây giờ đă có đường mới chạy dọc ven biển đến Ghềnh Ráng, Qui Nhơn mà không phải leo đèo Cù Mông nữa.  Khúc đường nầy mới nguyên, nên xe chạy rất êm.  Với phong cảnh tuyệt đẹp bên núi, bên biển, khách du lịch không thể không thích thú.

 

Qui Nhơn vốn là miền chợ của Kontum.  Cha mẹ tôi thường nói:  “Ở dưới chợ” đồng nghĩa với B́nh Định hay Qui Nhơn.  Qui nhơn là địa phân Mẹ của Kontum.  Cũng chính nơi đây, Đức Cha Cuenot, đă nh́n xa thấy rộng, sai các đấng Thừa Sai đến miền rừng thiêng nước độc để mang Tin Mừng đến cho người miền rừng núi.  Thầy sáu Do là một trong những người tiên phong nầy.  Kontum chúng ta ngày có trên bản đồ cũng nhờ công lao của những người đi trước.


Qui Nhơn có biển đẹp, có núi xanh, có nhà thương Qui Ḥa, có mộ Hàn mặc Tử.  Rất tiếc là chúng tôi không có chương tŕnh dừng chân lại Qui Nhơn, chúng tôi lại tiếp tục chạy ra Quảng ngăi.


Như đă nói trên, tôi vào đời bằng nghề dạy học ở trường Đăng Khoa, Trà Câu, Đức Phổ.  Đó là những năm đầu thâp niên 60.  “Quảng Nam hay căi, Quảng Ngăi hay lo, B́nh Định nằm co, Thừa Thiên ních hết”, người ta thường nói tính t́nh dân của các tỉnh trên.  Tuy sống ở đó một thời gian ngắn: chỉ 2 năm, nhưng tôi rất có thiện cảm với Quăng ngăi.  Người Quảng Ngăi tuy tính t́nh hay đôi co, nhưng sống rất có t́nh, có nghĩa.  Những người bạn mà tôi đă gặp và làm quen ở đây, vẫn c̣n kéo dài đến ngày nay và sống thân t́nh như anh em, xa th́ nhắn, gần th́ tới lui thăm viếng. Ai cũng biết đất Quảng Ngăi đă sinh ra rất nhiều danh nhân, anh hùng hào kiệt, những vị quan đại thần của các thế hệ.  Lê văn Duyệt, Nguyễn văn Soạn, Trương công Định, Lê văn Ty, Phạm văn Đồng  vân vân.  Các văn nhân Nguyễn Vĩ, Tế Hanh, Bích Khê… vân vân.  Họ đều xuất thân từ Quảng Ngăi. Không xa xôi, chúng ta có Thầy Trí, cha Đường…. và nhiều bạn CVK cũng đă đến từ Quảng Ngăi.

 

Tôi đến Quảng Ngăi cũng một t́nh cờ.  Sau hết năm trung học, tôi t́nh nguyện đi giúp xứ tự do ở Đà Nẵng, dưới thớ Đức Cha Ấn lúc ấy đang làm cha sở.  Cha Ấn nhờ tôi đến ở địa điểm truyền giáo Chùa Non Nước.  Ở đây có sẵn một nhà nguyện với một pḥng dành cho cha sở.  Tôi tu luyện để thử thách lần chót khả năng sống độc thân mà tôi biết nếu thích hợp, sẽ sống đến măn kiếp.  Tôi nghĩ rằng, khả năng sống độc thân của ḿnh sẽ gặp nhiều khó khăn, nên đă dứt khoát quyết định rút lui.  Trên đường từ Đà Nẵng về Kontum, tôi ghé thăm chị tôi đang tu ở Trinh Vương. Lúc đó, tôi được chị tôi cho biết là Cha Bích mới vào Qui Nhơn và hỏi thăm trường Trinh Vương t́m cho Ngài Giáo sư để dạy học cho trường trung học Đăng Khoa sẽ khai giảng khóa đầu tiên cho niên khóa. Tôi cho chị tôi biết là từ nay, tôi không c̣n nghĩ đến tu tŕ nữa, và sẽ về quê lập gia đ́nh và kiếm nghề nuôi sống.  Chị tôi nói:

-  Cha Bích mới ở đây và nói Ngài đang cần giáo sư cho trường Đăng Khoa.

-   Trường Đăng Khoa ở đâu vậy?

-   Nghe nói ở Trà Câu, Quảng Ngăi.

-   Em cũng đang có ư định t́m công việc dạy học, chớ chị nghĩ như em không lẽ về đi làm nông?

-   Cậu làm nông xem cũng vững lắm đó.  Nhưng nếu cậu muốn dạy học th́ liên lạc với cha Bích.

-   Chị có biết cha Bích hiện ở đâu không?

-   Không! Nhưng để chị hỏi thăm Sơ hiệu trưởng xem sao và để nhờ Sơ giới thiệu cậu với Cha Bích.  

 

Tôi vừa có ư định xin đi dạy học th́ liền có ngay.  Sau đó tôi đưọc chị tôi cho biết là cha Bích nay mai sẽ trở lại đây để biết sơ Hiệu trưởng đă t́m cho Ngài được mấy giáo sư.  Tôi nói với chị tôi rằng tôi sẽ về Kontum và nếu có ǵ th́ chị nhắn cho em biết.

 

Ở Kontum tôi được tin chị tôi nhắn là cha Bích cần găp tôi gấp ở Trà Câu. Tôi vội khăn gói lên đường đến Trà Câu để gặp cha Bích.  Lúc đó đang có lớp hè, nên Ngài nhờ tôi phụ giúp quăng hai tuần.  Hết khóa hè tôi lại về Kontum để thu xếp công việc để lại ra Trà Câu cho kịp ngày khai giảng.  Cũng năm đó, tôi có bà xă cùng đến Quảng ngăi để bắt đầu đời sống mới mà chúng tôi chưa bao giờ có kinh nghiệm.  Như thế, các bạn có nghĩ rằng những kỷ niệm ngày vào đời đơn sơ và bất ngờ đó dễ dàng để quên đi không?  Đó là những nét sâu đậm t́nh cảm của tôi đối với Quảng Ngăi. Nói Quảng Ngăi th́ bông lung, nhưng nói đến Trà Câu chính là tổ ấm gia đ́nh đầu tiên của chúng tôi.  Từ Trà câu, xuống đông là cửa biển Mỹ Á, lên đoài là Trà Bồng Batơ.  Trà câu! Ngày nay có dịp nh́n lại nó, chắc chắn ḷng tôi sẽ nôn nao sống lại những ngày cách đây hơn bốn thâp niên. Thời gian của những năm dạy ở đó, đă cho tôi có dịp đi thăm các thắng cảnh đó đây ở Quảng Ngăi. Từ Sa Huỳnh trên Quốc lộ 1 ta đi ngang Đức Phổ, Mộ Đức, Tư nghĩa... Những địa danh: Sông Vệ, Chùa Thiên An, biển Mỹ Á là địa danh nghe rất thân thương và là những nơi đă để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó diễn tả cho hết. I love “you” more than I can say!  Tôi đến Trà Câu quăng gần chiều tối.  Tôi cố mở rộng đôi mắt để nh́n lại “người yêu” mà tôi đă từng yêu như mối t́nh đầu.  Nhưng mọi vật đều thay đổi hẳn đến nỗi tôi không c̣n nhận ra những cảnh quen rất quen thuộc trước đây.  Chúng tôi không ngừng xe chỉ nh́n qua và thẳng đường đến Thị xă Quảng Ngăi.  Khi đến thị xă th́ trời đă tối.  Việc đầu tiên là t́m khách sạn.  Một khách sạn rất khang trang: Sông Trà đang mời dón chúng tôi.  Nhưng hôm nay chúng tôi lại phải đi t́m nơi khác v́ ở đây đă hết pḥng.  Minh em tôi rất quen thuộc v́ vốn là hướng dẫn viên du lịch, t́m đến để thử một khách sạn của nhà nước.  Tôi vốn không có thiện cảm với cái danh hiệu “nhà nước”, nhưng Minh đề nghị: chúng ta nên thử một lần cho biết.  Được biết, những khách sạn của nhà nước thường để đón các công nhân viên “hạng nặng” nhà nước thôi.  Đó là những khách sạn, đối với học, là “hạng sang” trước đây.  Nhưng sau thời gian hết bao cấp, th́ những khách sạn tư nhân mọc lên, và để cạnh tranh, khách sạn tư nhân có những lối cạnh tranh và pḥng ốc có vẻ tối tân và mời mọc nhiều hơn, nên những khách sạn của “nhà nước” lại phải nhường bước.  Chính những cán bộ “có tiền” cũng ưa thích mướn khách sạn ở ngoài v́ ở đó có những cái mà khách sạn nhà nước không có.  Sau khi thương lượng giá cả, chúng tôi nhận hai pḥng.  Thật t́nh mà nói đây là khách sạn không mấy vừa ư, so với những nơi chúng tôi qua đêm trong suốt cuộc hành tŕnh.  Về giá cả th́ không rẻ hơn, nhưng sự đón tiếp th́ không mấy ân cần, v́ đây chỉ dành cho các cán bộ nhà nước, kỳ dư ai muốn thuê th́ hay, không th́ cũng chẳng sao.  Chúng tôi nghĩ ngơi chút rồi tắm rửa và đi ăn tối.  Chúng tôi muốn t́m món ǵ lạ lạ, địa phương.  Bác tài đưa chúng tôi đến một quán ăn đông khách: “Quán thịt gà nướng”.  Đối với Việt Nam, món nầy “có giá” lắm.  Chúng tôi quyết định thử xem sao.  Nhưng đối với chúng tôi, món thịt gà nướng lá chanh, ướp sả, cũng chẳng quan trọng bằng việc chúng tôi muốn chọn nơi nầy để gây ngạc nhiên cho một người bạn thật tâm giao khi chúng tôi đi dạy học ở Trà Câu.  Chúng tôi thật t́nh thương mến nhau như anh em ruột thịt.  Thời kỳ đó, tôi cũng đă đem hai đứa em của tôi đến đó để nuôi ăn học.  Đó là Thông, và Minh, cả hai đều là CVK. Minh gọi điện thoại đến nhà, và nói là chúng tôi muốn cần gặp anh chị ngay bây giờ tại quán “Gà Nướng” trong thị xă.  Lúc đầu, anh Thu tưởng tai ḿnh nghe lầm, hỏi lại:

-   Có lẽ anh gọi lộn số điện thoại rồi.

-  Không đâu! Em là Minh đây. Anh không nhận ra tiếng nói của em sao?.  

-   Minh ở Sài G̣n phải không?

-   Chính em đây.  Có Thầy và Cô Khải muốn gặp anh chị ngay ở quán “Gà Nướng” đây.

-   Thầy và Cô Khải ở Mỹ phải không?

-   Đúng thế!  Nhưng hiện muốn gặp anh chị ngay bây giờ.

-   Thật hay tôi đang mơ đây?

Nghe đến đó anh Thu quăng máy và chạy đi t́m chị Thu.  Lúc thường, anh không bao giờ dám đánh thức chị Thu cả, v́ chị có bệnh mất ngủ.  Dỗ một giấc ngủ thật là khó khăn.  Nhưng hôm nay chẳng đắn đo ǵ cả, anh chạy đi đánh thức chị ngay.  B́nh thường khi có ǵ mà gọi chị gấp như vậy, làm tim chị mệt lắm! Nhưng khi nghe nói có Thầy và Cô Khải muốn gặp ở ngay bây giờ, chị rất hứng khởi, vội ra khỏi giường rồi sửa soạn và đi ngay, không để ư đến con tim thường “hay làm nũng ”. Phần chúng tôi, chúng tôi cũng nôn nao không kém,  cứ ngóng  ra đường đợi chờ anh Chị Thu đến.  Khi vừa thấy anh chị đến, chúng tôi chạy vội ra mừng đón trong ṿng tay siết chặt, giọt lệ cảm xúc.  Thật t́nh chúng tôi đă xa cách nhau đến gần 4 thập niên, nhưng t́nh cảm giữa chúng tôi vẫn nồng thắm như xưa.  Trong những thăng trầm cuộc đời, chúng tôi không thể gặp nhau, nhưng luôn luôn nhắn hỏi nhau và t́m lời an ủi nhau.  Nay chúng tôi ở Mỹ về, và gặp lại anh chị Thu, các bạn đoán biết chúng tôi hứng khởi đến chừng nào?  Chúng tôi vào tuổi lục tuần cả rồi.  Con cái của chúng tôi đều trưởng thành, so với lúc đó, chúng chỉ vài ba tuổi.  Nhưng chúng nó đều biết chúng tôi v́ anh chị Thu lúc nào cũng nhắc đến chúng tôi cả.

-  Nếu tôi gọi mấy đứa nhỏ th́ tụi nó đến ngay.  Chúng nó luôn nhắc Thầy Cô.

-  Thôi! Đến mai tôi sẽ đến thăm anh chị th́ sẽ găp chúng nó.  Bây giờ chắc đă khuya, để chúng nó ngủ.

 

Anh chị Thu thường gọi chúng tôi là Thầy Cô, v́ lúc đó chúng tôi đến Quảng Ngăi để dạy học.  Sau những biến đổi cuộc đời, tôi không bao giờ được gọi là “Thầy” và “Cô” nữa, nhất là sau năm 75, hai tiếng đó nghe trái tai lắm.  Nhưng bây giờ hai tiếng Thầy Cô khơi lại cho chúng tôi bao nhiêu những kỷ niệm xa xưa, những kỷ niệm ệm đẹp của đời sống mới và bắt đầu dạy học tại đây.  Bây giờ th́ đă khuya, sau một hành tŕnh suốt ngày, chúng tôi hẹn ngày mai sẽ đến thăm nhà và thăm các cháu để xem chúng nó nay diện mạo thế nào.  Trước khi về, chúng tôi mời cả gia đ́nh anh chi Thu và các cháu đến ăn sáng với chúng tôi.   Sáng hôm sau, khi chúng tôi thức giấc, anh chị Thu đă đến khách sạn đón chúng tôi.  Chúng tôi hỏi:

-   Bộ anh chị ngủ không được hay sao mà đến sớm vậy?

-  Giờ nầy mà c̣n sớm nữa?  Hôm qua về là ngủ lại được ngay.

 

Thường th́ những khi bị gọi bất thường như thế, chị Thu không cách nào để ngủ lại được nữa.  Các cháu cũng lần lượt đến chào chúng tôi.  Chúng tôi có nhận ra đứa nào đâu, nhưng c̣n nhớ tên từng đứa.  Chúng nó tự giới thiệu tên và giới thiệu mấy cháu nhỏ.  Đứa nào cũng xinh xinh đẹp đẹp như cha mẹ chúng. Chúng tôi lo sửa soạn và lo thủ tục trả pḥng và cùng với gia đ́nh khi ăn sáng.  Ăn sáng xong, chúng tôi đến nhà anh chị Thu cho biết, nhưng không nán lại được.  Chúng tôi hẹn, trên đường về, chúng tôi sẽ ghé lại và ngủ qua đêm tại nhà anh chị.  

 

Trà Kiệu. Cố Đô Huế

 

Đức Mẹ Trà Kiệu.

 

Hôm nay phải đến ngủ đêm tại Huế. Trên đường đi Huế, chúng tôi dừng chân lại kính viếng Đức Mẹ Trà Kiệu.

 

Là người Việt Nam, chúng ta có đến 4 nơi hành hương kính Đức Mẹ.  Miền Nam th́ có Đúc Mẹ La Mă ở tỉnh Bến Tre, Đức Mẹ B́nh Triệu ở vùng gần Sài G̣n.  Ở Huế có Đức Mẹ La Vang là nổi bật nhất.  Nhưng Đức Mẹ Trà Kiệu không kém phần linh thiêng.

 

Trà Kiệu là nơi sùng kính Đức Mẹ rất nổi tiếng thuộc Giáo Phận Đà Nẵng.  Nhà thờ được xây cất 1898, và một nhà nguyện nhỏ trên một ngọn đồi có tên rất trân trọng: Đồi Bửu Châu. Nhà thờ nầy được dâng kính Đức Mẹ với Danh hiệu là Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu. Sở dĩ, Trà Kiệu được ghi vào giáo sử và trở thành nơi hành hương v́ chính nơi đây, Đức Mẹ đă ra tay che chở cách riêng như một phép lạ. Người Công Giáo đă bắt buộc phải chiến đấu tự vệ để chống lại phong trào Cần Vương 1885, với chủ tâm giết đạo.  Phong Trào Cần Vương, do Nguyễn Văn Tường đề xướng với danh nghĩa B́nh Tây, sát Tả.  V́ chủ tâm giết người Công Giáo nên Trà Kiệu là mục tiêu phải tiêu diệt trước nhất.  Bắt đầu tháng 9 năm 1885, lính Văn Thân đến vây làng Trà Kiệu trong đó có Nhà Thờ và LM Bruyère (Cố Nhơn) đang làm cha sở.  Giáo dân toàn xứ ra sức đối phó với vũ khí gươm đao và chừng lối 5 khẩu súng với 40 viên đạn thường dùng để săn bắn.  Lực lượng Văn Thân th́ đông gấp trăm lần với thần công đại bác với nhiều súng nhỏ tối tân hơn súng cũ kĩ của Trà Kiệu.  Cố Nhơn họp các hào mục trong làng cùng với Cụ Trương Phố, Vơ Sao, Vơ Cảnh kêu gọi toàn làng chiến đấu.  Các thanh niên trai tráng kết thành lực lượng chiến đấu chính. Gần 500 phụ nữ cũng kết thành đội ngũ để cứu thương và trừ bị sẵn sàng lâm chiến khi cần.  Thanh niên trai tráng th́ quảng 370 người chia thành 7 đội tác chiến.  Các người già th́ làm hậu cần, ngày đêm thắp đèn thổi bễ sản xuất vũ khí.  Ngoài những vũ khí thô sơ và đội ngũ ít oi, các Giáo Hữu c̣n có một nơi nương tựa vững chắc và tin cậy sắc son:  Đức Mẹ, mà đêm ngày, người già và trẻ con đèn nến khẩn cầu.

So sánh lực lượng đôi bên.

 

Bên Văn Thân. 

Quân số:  Đông vô kể, có thể tới hàng vạn cộng với lực lượng địa phương của Tỉnh và Huyện. Và chỉ huy trận đánh là những tướng lănh thời danh trong đó có cậu Học, con trai Lănh binh Ích Khiêm.               

Địa lợi:  Chiếm 2 điểm cao là đồi Kim Sơn va Bữu Châu

Vũ khí:  Thần công đại bác và nhiều súng nhỏ.

Lương thực:  Vô tận v́ có Tỉnh và Huyện cùng tham chiến.

 

Bên Công Giáo. 

Quân số: Chủ lực:  Chỉ có 370 thanh niên và quăng chừng 500 phụ nữ trợ chiến. Chỉ huy là cố Nhơn và hào mục trong làng.

 

Địa lợi: Khoanh vùng trong một phạm vi rất nhỏ của Nhà thờ Trà Kiệu nằm dưới chân đồi Bữu Châu.

Vũ khí: 5 khẩu súng và 40 viên đạn, ngoài ra là gươm giáo, gậy gộc.

Lương thực:  Rất hạn chế.  Nếu bị vây th́ trong ṿng 1 tháng sẽ hết long thực.

 

Mở màn trận chiến, bên giáo dân có vẻ nao núng v́ yếu kém, và có 4 giáo dân bị giết.  Họ rút từ đồi Kim Sơn vào nhà thờ để pḥng thủ.  May thay!  Trong lúc tinh thần tuột dốc đó, Văn Thân lại không tấn công, chỉ bao vây và kêu gọi ra hàng.  Lợi dụng thời gian hoăn chiến, bên Công giáo củng cố lại tinh thần và quyết tâm chống giặc đến chết, v́ nếu không cũng phải bị giết vậy.

 

Sau vài ngày gọi hàng không thành công, Văn thân lại bắt đầu tấn công.  Họ dùng bộ binh tiến gần các lũy tre pḥng thủ, nhưng lại lọt vào những nơi phục kính và giáo dân xông ra chém giết rất nhiều địch quân. Địch lại định dùng thế hỏa công, thu thập rơm rạ thật nhiều để đốt hàng rào pḥng thủ.  Nhưng tin t́nh báo của giáo dân biết được ư dịnh nên họ đă tấn công trước đuổi được tuớng chỉ huy là Cậu Học và tịch thu rơm rạ gom lại đốt sạch, và san bằng các công sự chiến đấu của địch.  Địch quân lại tăng cường thêm thần công đại bác.  Từ trên hai đồi, các đại bác nhả đạn vào mục tiêu Nhà thờ, nơi mà họ cho là thành lũy kháng cự của địch. Nhưng rất lạ thay, nhà thờ vẫn đứng hiên ngang đánh bạt những trái đạn đi nơi khác và có nhiều quả lại nổ trúng và giết hại phe ḿnh.  Có khi họ kéo đại bác vào sát nhà thờ  chỉ 100 thước để bắn trực xạ, nhưng không sao bắn trúng. Về sau ông thú nhận rằng: “Một người đàn bà lạ, mặc áo trắng đứng trên nóc nhà thờ.  Ong nhắm vào bà , nhưng không cách nào bắn trúng bà được.” Giáo dân không ai nh́n thấy duy chỉ có một phụ nữ  tên Chỉnh đă trông thấy và thuật lại với cố Nhơn và mọi người.  Ai cũng cho rằng chính Đức Mẹ đă nhậm lời giáo dân và ra tay cứu giúp. Tin đó làm hoang mang địch quân, nhưng lại củng cố tinh thần của giáo dân.  Ngoài “Bà Áo Trắng”, địch quân c̣n kinh hoảng khi nh́n thấy hàng ngàn anh nhi mặc áo trắng tay cầm gươm bạc, từ không trung đáp bay xuống, đánh giúp với giáo dân.  Tinh thần địch quân chán nản và định rút quân.  Quân ta thấy địch quân vào thế tự thủ, bèn phản công tới tấp một ngày đến 3, 4 trận.  Sau cùng, dịch quân cầu viện được Chưởng Thủy Túy dùng voi để xung trận.  Trong tinh thần chiến thắng, bên công giáo dùng chiến thuật hỏa chiến, dùng đuốc lửa để phản công.  Voi sợ lửa, chạy tán loạn.  Quân ta, tiến sát dùng gươm hạ được tướng chỉ huy, chặt đầu mang thủ cấp về, bêu cao làm lịnh.  Địch càng hoang mang lo sợ th́ ta lại phấn chấn, quyết ra tay tổng tấn công lên đồi Bữu Châu nơi cố thủ của địch.  Ta vây kín 3 mặt, chùa lại hướng đông cho địch rút lui.  Trong đêm tối, 10 thanh niên t́nh nguyện mạo hiểm lẻn lên đồi đôt nhập sào huyệt và may mắn giết được tướng chỉ huy đồng thời hô to khẩu hiệu “GIÊSU! MARIA! GIUSE!” như mật lệnh để các đội quân mai phục chung quanh đồi cùng loạt tiến lên.  Địch quân bị bất ngờ và hỗn loạn bỏ chạy.  Được cầu cứu, địch quân phải dùng voi để giải cứu, nhưng voi không chịu tiến.  Các quản tượng phải la lên: Họ đông quá!  Họ xuống qua lũy tre.  Lũ giáo đông quá!  Chạy thôi!  Địch quân đồng loạt rút chạy về hương đông như đă chừa lại cho họ một đường thoát.  Phần giáo dân th́ chỉ nghe họ kêu “đông quá! đông quá!” Trên thực tế họ biết lực lượng ḿnh chẳng bao nhiêu. Họ rất đỗi ngạc nhiên khi thấy địch quân ùn ùn kéo nhau chạy. 

 

Sau 20 ngày bị vây hăm và nghênh chiến với địch có khi tiến có khi lùi, nhưng ai nấy phải liều chết để t́m đường sống và sau cùng giáo dân đă giữ được Trà Kiệu.  Giữ được Trà Kiệu là một thực tế khó giải thích theo lối thường. Văn Thân muốn tiêu diệt Công Giáo.  Trà Kiệu đă chống lại giặc Văn Thân.  Nhà thờ Trà Kiệu chưa bao giờ bị lọt vào tay Văn Thân. Lịch sử đă ghi lại như thế.  Lấy lực lượng đông, có binh ngũ, có tướng chỉ huy theo binh pháp và có vũ khí mạnh như đại bác và súng trường để đánh chiếm một giáo xứ nhỏ như Trà Kiệu, không có binh hùng tướng giỏi, không súng ống đạn dược.  Như thế ta giải thích thế nào đây, nếu không tin vào sự Phù hộ của Đức Mẹ như một phép lạ? 

Những truyền thuyết: như “Bà Áo Trắng” trên nóc nhà thờ hay những “Ấu Nhi sa xuống từ trời qua lũy tre” ta có thể tin hay không tin.  Nhưng sự đẩy lui được sự tấn công của Văn Thân nhờ sự  kêu cầu  Chúa và qua sự cầu bầu của Đúc Mẹ th́ đó là một phép lạ không thể không tin được. Trong thời đại mới nhất từ 45 đến 75, cũng nhiều lần bị đánh phá dữ dội, nhưng chưa lần nào Trà Kiệu bị chiếm hay bị pháo binh san bằng, mặc dù nhà thờ trên Đồi Bữu Châu có tọa độ rơ ràng và nằm trong tầm pháo binh của địch.  Hằng năm, cứ  cuối tháng 5, tức tháng Hoa, Trà Kiệu có những ngày Đại hội để cung nghinh và vinh danh Đức Mẹ, để tạ ơn v́ luôn luôn Đức Mẹ Trà Kiệu là Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu. (Kể phỏng theo tài Liệu Đức Mẹ Trà Kiệu trên Vietcatholic)

 

Bây giờ th́ chúng tôi đă đến ngă ba rẻ trái để đến Trà Kiệu.  Tôi đă đến đây một lần vào thập niên 50, bằng xe đạp.  Năm đó chúng tôi nghỉ hè tại An Ngăi.  Trong một ngày mát trời, có mưa lác đác, Chú B́nh (bây giờ là Cha) và tôi, hai người dùng xe đạp, khởi hành từ An Ngăi Tây, cách Trà Kiệu chừng 45 cây số, tiến về Trà Kiệu.  Chúng tôi vừa đi vừa hỏi  thăm đường sá.  Chúng tôi đă đến Trà Kiệu vào lúc xế chiều.  Mục đích viếng thăm Trà Kiệu lần đó là mừng ngày vinh qui cha Trương Xuân Thanh, là cậu họ của chúng tôi.  Cũng trong dịp nầy chúng tôi t́m về nguồn v́ mẹ của chúng tôi đă một thời gian cư trú tại đây với người Cô ruột, về sau được phái lên Kontum và làm Bà Nhứt tại nhà Cuenot, tức là Bà Nhứt Sổ.  Bà Sổ đi Kontum th́ đem theo mẹ chúng tôi theo nhờ đó mà chúng tôi có mang gịng máu Quăng Nam kết hợp với cha tôi vốn là dân B́nh Định chính tông.  Chúng tôi c̣n nhớ rơ con đường trải đá cuội lúc bấy giờ gây không ít khó khăn cho chúng tôi khi phải đi xe đạp.  Ngày nay, tuy đường không mở rông thêm, nhưng đă tráng nhựa sạch sẽ hơn nhiều. Tuy nhận là “thân thuộc” với Trà Kiệu, nhưng chúng tôi cảm thấy hoàn toàn xa lạ đến đổi xe đă dừng lại dưới đồi Đức Mẹ (đồi Bửu Châu) mà chúng tôi cứ đưa mắt t́m ở đằng xa. 

 

Vừa ra khỏi xe, tôi nh́n lên đồi và cúi đầu như để chào Mẹ, chào lại cảnh vật mà tôi hầu như đă quên gần nửa thế kỷ rồi.  Rồi chúng tôi cùng nhau chuẩn bị lên núi.  Khác với thời xưa, đường lên núi là những bực thang xi măng, sạch sẽ và gọn gàng và hai bên là hoa là cây cỏ tươi xanh.  Trên cao đó là đền kính Đức Mẹ thường thi được khoá chặt để pḥng ngừa phá phách và trộm cướp vặt. Chúng tôi lại trước cổng khóa, và nh́n nhau, không biết phải làm sao để vô được bên trong.  Chúng tôi bị một đám trẻ năm ba đức bu quanh, tranh nhau ch́a những bức ảnh Đức Mẹ Trà Kiệu, những xâu chuỗi hay những chiếc quạt hoa màu với h́nh Mẹ h́nh Chúa. Tôi mới hỏi một trong bọn trẻ:

Tôi muốn vào trong kính viếng Đức Mẹ phải làm sao?

Ông phải chờ chút nũa sẽ có người đến mở cửa.

Nhưng làm sao họ biết chúng tôi đến để mở cửa?

Biết chớ!  Ông mua giùm con cái nầy đi ông!

Chúng tôi phải đứng chờ. Từ đồi cao nh́nh xuống, cảnh vật Trà Kiệu thật đẹp vào buổi sáng hôm đó.  Nắng sáng nhưng không quá chói chang, cũng không tỏa nóng đủ để làm làm đổ mồi hôi mặc dầu chúng tôi vừa phải bước gần trăm bậc thang từ chân đồi đến đây.  Và như để xoa dịu bớt căng thẳng đợi chờ, làn gió mát hiu hiu thổi đến, thổi thẳng thấu tâm cang và mang cả người giữ cửa đến.  Người giữ cửa vui vẻ an ủi chúng tôi:

Xin lỗi v́ phải đợi chờ.  Lúc ni (nầy) nhiều người đến phá phách, xả rác nên chúng tôi phải khóa cổng lại. 

Xin chào Bác! Dạ không sao!  Chúng con đứng chờ chút cũng không sao.

Sao hôm nay vắng khách hành hương vậy bác?

Gần trưa rồi, nên tôi đóng cửa về nghỉ trưa.Thường vào buổi chiều th́ khách đông hơn, v́ nhiều người đến từ xa.

 

Hai cánh cửa mở rộng.  Chúng tôi ung dung bước vào trong.  Trong tất cả mọi người có mặt, tôi là người duy nhất trở lại đây để t́m những kỷ niệm của những năm về trước khi đă một lần đến đây, quỳ dưới chân Mẹ để cầu nguyện.  Tôi không nhớ rơ khi đó tôi đă cầu nguyện những ǵ v́ khi đó tôi là một chủng sinh CVK (có lẽ quatrième).  Nhưng bàn thờ Mẹ lúc đó đơn sơ nghèo nàn, không giống như bây giờ đang đầy hoa tươi nến sáng.

Chúng tôi cùng qú dưới chân Đức Mẹ để cầu nguyện.  Sau một lúc chúng tôi cùng nhau lần hạt chục kinh, với ư chỉ cầu nguyện cho một người cháu đang mang bịnh “Lupus” và cùng nhau hát một bài dâng kính Mẹ.  Trong lúc chúng tôi đọc kinh cầu nguyện th́ cũng có một nhóm hành hương khác đang chờ phía sau.  Chúng tôi vội kết thúc để dành chỗ cho họ. Chúng tôi tảng ra ngoài, đến gần bao lơn để nh́n cảnh vật chung quanh.  Tôi đến giếng nước và nhớ lại tôi đă từng uống nước kéo từ đấy sâu của giếng nầy cách đây 46 năm.  Giếng nầy có một mạch nước không khô cạn, trong lúc ở dưới chân đồi kia các giếng đă không c̣n nước trong những năm hạn hán kéo dài.

 

Tôi lại đi t́m ông già giữ cửa để tṛ chuyện làm quen và thăm hỏi những ǵ của 46 năm về trước. Tôi tự giới thiệu:

- Thưa bác, tôi tên Khải.  Tôi đến cách đây gần nửa thế kỷ.  Có lẽ lúc đó bác cũng  khoảng chưa đầy hai muơi.

- Khoảng năm nào vậy?

- Là năm 1955.  Tôi đến đây nhân dịp cha Trương Xuân Thanh mừng lễ vinh qui bái tổ.

- Cha Thanh có họ với tôi.  Năm nớ tôi c̣n trẻ lắm, và có đến giúp đám tiệc cho cha Thanh. Tôi gọi cha Thanh bằng cậu. Tôi không rơ bà con cách nào nhưng chỉ biết thế thôi. Thế là anh ở trong “đám ông… và bà…”. ( Người Quăng Nam thường gọi những người trong tộc là “đám”.).

 

Nhân tiện, tôi đến đây muốn hỏi thăm một người cô bên vợ, tên là bà…..Vậy bác có biết bà đó không?

- Lạ ǵ bà đó.  Để tôi bảo thằng nhỏ kia đưa anh chị đến đó. 

 

Thằng nhỏ đưa đường cho chúng cũng chính là thằng nhỏ bán ảnh tượng lúc nảy và cũng là con cháu ǵ của gia đ́nh của người cô. Mục đích là đến thăm, và muốn biết tin môt người anh và cũng là CVK.  Đó là Trương Phúc Danh cvk58 hiện tại cũng đang ở tiêu bang Oregon.  Nếu có thời gian rộng răi hơn, tôi sẽ t́m đến các gia đ́nh quen thân để thăm hỏi và chuyện tṛ lâu hơn.  Nhưng thời gian không cho phép nán lại lâu và chúng tôi chỉ ghé thăm căn nhà bán đồ lưu niệm và mua một vài ảnh Đức Mẹ Trà Kiệu và ít xâu tràng hạt được kết bằng thủ công nghẹ xem rất công phu.

 

Chúng tôi từ giă Trà Kiệu vào lúc quá trưa và cũng chính lúc chúng tôi cần phải được tiếp thêm “nhiên liệu”.  Ra đến Quốc Lộ 1, chúng tôi t́m đến một quán ăn.  Cửa hàng nầy có lẽ là quốc doanh, nên mọi cái đều có vẻ “chẳng cầu ai”.  Cơm th́ nguội canh th́ thừa, nhưng v́ đă lỡ đến nên cũng nhắm mắt nuốt cho xong một bữa trưa.  Cơm nước xong th́ chúng tôi lên đường thẳng đến Huế. Chúng tôi ai cũng có phần mệt mỏi, nên nhắm mắt định hơi để rồi sẽ vượt đèo Hải Vân để đến Cố Đô.

 

Đèo Hải Vân.

 

Chứng tôi đă đến chân đèo và bắt đầu chạy trên những đoạn đường dốc đứng quanh co như rắn ḅ.  Có thể nói: Hải Vân là “Mây”, là “Biển” là phong cảnh tuyệt đẹp.  Càng lên cao, càng thấy ḿnh bị cuốn vào đám mây, để rồi vươn tay vén bức màn mây, nh́n xuống biển xanh trải rộng măi ở trời đông. Ở Mỹ, tôi chưa có dịp được lái xe leo đèo để thăm viếng bang Colorado. Nhưng ở Việt Nam, mỗi lần lên đèo An Khê, đèo Cả, đèo  Chuối (Dalat), đèo Hải Vân…, tôi luôn luôn có cảm tưởng rằng ḿnh phải nín hơi cố sức để lên.

 

Cuối cùng chúng tôi đă đến đỉnh đèo và thở phào thoải mái. Mọi người dừng chân nghỉ mệt.  Chúng tôi t́m những điểm đứng để nh́n xuống cảnh vật chúng quanh dưới chân đối.  Không khí ở đây thoáng mát, có chút gió lạnh. Khi tôi đến đây th́ con đường hầm xuyên qua núi vừa mới khởi công.  Công tŕnh đường hầm xuyên núi Hải Vân phải kể như công tŕnh lich sử.  Trước đây có những đường hầm nhưng chỉ cho ngành Hỏa Xa và chưa có một xa lộ nào xuyên qua núi.  Tôi nhớ lại kỷ niệm hành hương Rôma năm thánh 2000, tôi đă có dịp xuyên qua những đường hầm trên những xa lộ từ miền Nam nước Pháp đến Rôma.  Ở Mỹ cũng có vài xa lộ chạy dưới ḷng biển (như ở Boston, MA) hay vài đường hầm ngắn khác.  Khi chạy trên những xa lộ đường hầm chỉ biết rằng ḿnh đương chạy dưới nước đủ để khoái chi trong giây lát.  Tôi nghi rằng giờ đây đường hầm xuyên Hải Vân đă đưa vào xử dụng và mang tiện lợi cho Việt Nam. Tôi tin rằng đường đèo vẫn c̣n duy tŕ xử dụng cho những ai không muốn trả lệ phí và khách du lịch muốn ngắm cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp nầy.

 

Nghỉ xong, chúng tôi bắt đầu xuống đèo.  Tuy xổ đèo th́ đỡ mệt hơn lên, nhưng cũng phải cẩn thận v́ những khúc quanh co nguy hiểm. Tôi có nhận xét:  Những bảng hướng dẫn và lưu ư cẩn thận qua những khúc đường nguy hiểm, tuy có nhưng chưa đủ.  Về điểm nầy, đường ở Mỹ là nhất. Xuống hết đèo, chúng ta đă gần tới cố đô Huế.  Đầu tiên, Nguyễn Hoàng đến trấn Thuận An, bắt đầu sự nghiệp cho nhà Nguyễn. Đến đời Nguyễn Ánh th́ Quang Trung sắp xóa tên họ Nguyễn trong lịch sử. Nhưng Tây Sơn không giữ nước được lâu sau khi Quang Trung băng hà.  Nguyễn Ánh nắm cơ hội lật ngược thế cờ và lên ngôi lấy hiệu là Gia Long.  Vua Gia Long lập thủ đô ở Huế. Nhưng sau, chính trị đă biến chuyển và nhất là sau hiệp định Genève, đất nước lại chia đôi: Bắc có Hà Nội và Nam có Sài G̣n. Sau ngày thống nhất, th́ hiện nay Hà Nội là thủ đô duy nhất.  Và Huế được gọi là cố đô có thể nói từ ngày Bảo Đại từ chức vào năm 1945.  Vắn tắt như vậy trong khi chạy gàn tới Huế. 

 

Tới Huế vào lúc vừa đèn đêm vừa thắp sáng.  Từ năm 1955, tôi đă đến đây một lần.  Tôi không c̣n nhớ ǵ về Huế cả, trừ Nhà thờ Phủ Cam và nhà thờ ḍng Chúa Cứu Thế.  C̣n nữa, cầu Trường Tiền cũng c̣n những nét mờ gác qua ḍng sông Hương.  Ngày nay, Huế trở nên xa lạ.  Chúng tôi t́m đến một khách sạn để qua đêm. Khách Sạn ở Huế, cũng như những chỗ khác, trung b́nh, với giá có thể nói là rẻ. Pḥng có máy lạnh, có nước nóng và có nước trà miễn phí.  Chúng tôi tắm rửa và nghỉ cho thoải mái trước khi ra ngoài dung cơm tối.  Chúng tôi đă bàn nhau và quyết định thưởng thức đặc sản Huế:  Bánh lá. 

 

Cũng không khó lắm để t́m một quán bánh lá.  Bánh lá, đại khái là bột gạo nắn lại và điểm thêm chút nhưng, gói lá, rồi đem hấp chín. Nghệ thuật làm và cách tŕnh bày thu hút khách hàng đến đây không ít.  Đêm đêm, rủ vài bạn thân tới đây, ngồi rù ŕ nói chuyện đời hay chuyện yêu đương, ăn vài cái bánh, uống vài chum trà.  Tuyệt lắm!  Nhưng chúng tôi đă làm sai bài toán rồi.  Chúng tôi định thưởng thức món “đặc sản” nầy để thay thế cho bữa ăn tối th́ thật là “bé cái lầm”.  Chúng tôi đă phá lệ kêu gấp ba lần, nhưng vẫn có cảm tưởng ḿnh chưa ăn ǵ.  Lư do là những bánh đó được tŕnh bày theo kiểu cách Huế: rất thanh tao. Bánh được gói nhiều lá, nhưng mỏng chỉ bằng lá lúa.  Lột ra, bỏ vào miệng, chúng tôi không cần nhai, v́ nó tự động tan biến đâu mất và nhiều lúc không nhớ rơ ḿnh đă nuốt hay chưa. Sau ba lần “order”, chúng tôi định phải kêu thêm lần thứ tư, nhưng nhân viên nhà hàng chỉ trố mắt nh́n chúng tôi như để đánh giá là những phàm phu tục tử không biết thưởng thức cái “tao nhă” của kinh thành vua chúa nầy, nên từ chối: “Hết rồi!”  Chúng tôi nh́n nhau ôm bụng cười. Tức cười thật đó!  Cười cho ḿnh không biết cái “thanh tao” khi thưởng thức món  bánh lá Huế mà chỉ cái “phàm phu”, ăn lấy no.  Thôi th́ kêu thêm nước uống vào hy vọng sẽ qua v́ giờ nầy không c̣n quán nào để đi ăn tiếp.  Chúng tôi c̣n quên chưa kể là thời gian giữa các mâm bưng lên cho khách cũng khá lâu mục đích để cho khách thưởng thức và lối làm chậm răi cũng là cái kiểu cách quư phái sót lại của kinh thành vua chúa nầy.  Thêm vào đó là những tách trà bé tí teo.  Khi uống chúng ta có thể bỏ luôn cả tách vào miệng nhai luôn may ra “mới đă”.  Tính toán có sai, nhưng không sai hoàn toàn v́ đêm đó, chúng tôi ngủ ngon lành không ác mộng, nhờ bữa ăn “điểm tâm tối”, rất nhẹ dạ dày nầy.

 

Đức Mẹ Lavang.

 

Hôm nay từ sáng sớm, chúng tôi lên đường đến thánh địa Lavang.  Viếng Đức Mẹ Lavang là ước mong, là lời khấn và cũng là mực đích của chuyến đi nầy.  Không biết từ lúc nào, tôi đă có “t́nh” với ĐM Lavang.  Rất có thể từ trong ḍng máu của cha tôi, tôi được di truyền.  Từ Huế đến Lavang là quảng đường dài đủ để các bạn nghe tôi kể chuyện ngày xưa, ông thân tôi đă đi viếng ĐM Lavang như thế nào.  Tôi được nghe cha kể lại không nhớ hết các chi tiết chỉ biết rằng cha tôi cùng với cha của cha B́nh và hai người em kết nghĩa khác là chú Phán (Kền) và chú Cử cùng nhau đi đại hội Lavang.  Tôi cũng không nhớ rơ ngày tháng và chỉ biết cuộc hành tŕnh lúc đó rất khó khăn và dài lắm.  Trước hết, từ Kontum tới An khê vừa đi bộ vừa đi xe ḅ (một ngày một đêm).  Sáng hôm sau đi xe vận tải chạy bằng than đến Qui Nhơn (thêm một ngày nữa).  Các ngài đă đổi xe và tiếp tục hành tŕnh đến Touranne (Đà Nẵng) và có lẽ cũng xe than nữa và lại một ngày đường nữa. Từ Touranne đến Huế và Lavang đi xe lửa.  Thời bấy giờ xe lửa chạy bằng máy hơi nước nên mới có danh từ “xe lửa”.  Bốn anh chàng hè nhau cùng xuống núi để “tiếu ngạo” Lavang thời bấy giờ cũng một kỳ công đáng nói.  Các ngài dự ba ngày đại hội, nằm bờ ngủ bụi và bị một cơn mưa ướt hết nhưng xem là một hồng ân v́ thời gian đó ở Lavang thường không bao giờ mưa cả. Quà của Đức Mẹ Lavang mang về là một miếng gạch bể, và một nắm cỏ hoang (tôi cũng không biết cỏ ǵ).  Đó là món quà quí giá là thuốc chữa bá bệnh và đă được cất kỹ trong một cái hộp tre đan rất kỹ và mỹ thuật.  Gia đ́nh tôi ở tại Kon Hơring cách thị xă 30 cây số.  Thời bấy giờ y tế rất phôi thai ngay ở Kontum cũng thế huống chi nơi xa xôi như Kon Hơring chỗ gia đ́nh tôi đang sống.  Nhưng gia đ́nh chúng tôi đă có bửu bối trong tay và bất cứ một trường hợp nào, khi gặp chuyện đau ốm đều dùng bửu bối Lavang.  Tôi không nhớ rơ là  chúng tôi có được ĐM Lavang chữa khỏi bằng cục gạch và mớ cỏ dại đó không.  Nhưng tóm lại gia đ́nh chúng tôi an toàn sau bao nhiêu bạo bệnh từ tiêu chảy, đến xuất huyết, thương hàn và nhất là bị chó dại cắn chỉ nhờ dùng những thuốc mà Đúc Mẹ Lavang ban tặng. Tôi chỉ xin kể một chuyện bị chó dại cắn th́ vừa đủ cho quăng đường dài từ Huế đến Lavang.  Chuyện nầy một phần do tôi chứng kiến và một phần do cha tôi kể lại mà tôi c̣n ghi trong tim mỗi lần nói về Mẹ Lavang.

 

Năm đó có lẽ là 1946, lúc đó tôi c̣n bé nhưng đă có trí khôn và trí nhớ, Kon Hơring bị nạn là chó dại lan tràn.  Trong làng quảng trên người chết v́ bị chó dại cắn.  Tôi nhớ lúc đó mỗi lần ra ngoài th́ luôn cầm trên tay một gậy để đập cho khi bị tấn công.  Người bị chó dai cắn không phát bệnh ngay, nhưng trong thời gian 100 ngày th́ bệnh phát lên và vài ngày là chết.  Thời bấy giờ đă có thuốc chữa bệnh cho dại cắn, nhưng tại Kontum th́ chưa có.  Cha tôi hôm đó đi đánh lưới đêm ở sông Dak Psi cùng vài người đồng bào thượng.  Ở giữa đường, mọi người dừng lại nghỉ chân và tiện dịp sai mấy anh em Thượng vào rừng le chặt vài cây để làm cọc giăng lưới.  Cha tôi ngồi chờ bên lề và thường có thói quen lần chuỗi.  Đang ngồi đọc kinh, và v́ trời tối không thấy chó từ xa, cha tôi bị chó dại xáp lại cắn và ngoạm chặt bàn tay trái và lắc qua lắc lại như muốn cắn đứt bàn tay ra.  Cha tôi kêu to tiếng cầu cứu và mấy anh em người Thượng chạy đến dùng cây đánh đập chó và nó mới thôi và bỏ chạy.  Mọi người chỉ lo cho vết thương trên bàn tay đang ra máu lênh láng mà quên cả việc giết con cho dại.  Cha tôi xé chiếc áo lót để băng vết thương và cùng nhau về nhờ mấy anh em Thượng d́u đỡ .  Bị chảy máu nhiều và mất tinh thần, cha tôi nằm xỉu khi vừa đến nhà.  Tôi chỉ nghe cha tôi nói: “cha bị chó dại cắn” và ngă lăn trên giường.  Nghe nói “bị cho dại cắn” cả nhà chúng tôi oà lên khóc v́ biết là cha tôi sắp chết như nhiều người vừa mới vừa chết trong mấy ngày qua.  Mẹ tôi cũng ôm cha tôi khóc kể.  Một lúc lâu sau cha tôi tỉnh dậy và khuyên lơn mọi người b́nh tĩnh và cầu nguyện.  Cha tôi bảo mẹ tôi nấu nước để nguội để rửa vết thương.  Cha tôi cũng nh́n lên cái hộp đựng báu vật Lavang và bảo mẹ tôi lấy xuống, lấy miếng gạch Lavang bỏ vào ấm nhỏ mang đi nấu sôi.  Xong th́ rót nước vào ly rồi để trên bàn thờ khấn.  Cả nhà qú gối đọc kinh, nguyện dâng mọi việc cho Chúa, xin Mẹ liệu cách nào để cứu gia đ́nh đ́nh chúng con thoát nạn. Sau đó cha tôi bưng ly, nhắm mắt nguyện cầu riêng và thành kính uống. Chúng tôi khóc lóc và sốt sắng nài xin mấy ngày cũng chưa nguôi. Những ngày sau đó, tối sáng chúng tôi không lúc nào thôi cầu nguyện với Chúa và ĐM Lavang để xin thương cứu gia đ́nh chúng tôi.  Chúng tôi luôn quấn quit bên cha và cha tôi bắt đầu trăn trối với từng người một trong gia đ́nh.  H́nh ảnh khi phát bệnh dại cha tôi sẽ như thế nào lại hiện ra trước mắt chúng tôi khi chúng tôi được nghe cha tôi dặn mẹ tôi: “ khi bệnh dại phát, ḿnh nên giữ các con đừng để chúng lại gần”.  Trời ơi!  Cha bệnh, cha sắp chết mà mọi người phải tránh xa.  C̣n cảnh nào bi đát hơn.  Lạy Chúa!  Chúa tính cho chúng con thế nào chứ!  Lạy Mẹ Lavang!  Mẹ đă nhiều lần ban ơn cho gia đ́nh chúng con.  Không lẽ nào lần nầy Mẹ làm ngơ.  Tôi nhớ lại chưa bao gia đ́nh chúng tôi thiết tha van nài Chúa và Đức Mẹ như lần nầy. 

 

Xét về thuốc trị liệu, bệnh chó dại lúc bấy giờ ở Kontum c̣n không có thuốc trị th́ liệu nước do một miếng gạch vụn từ Lavang có chữa được bệnh cho cha tôi không? Nhưng đây, hăy nh́n và suy ngắm cách thức Đức Mẹ đă làm.  Thời bấy giờ lưu thông khó khăn.  Cha tôi thường dùng xe đạp để về Kontum và người hàng xóm chúng tôi cũng không có ai biết đi xe đạp.  Cha tôi viết một bức thư và nhờ một người Thượng đi bộ xuống Vơ Định báo cho cha Thiệt biết.  Nhờ đó, tin cha tôi bị chó dại cắn truyền đi rất nhanh và đến tai các cha ở Kontum trong đó có cha Hutinet (cố Nh́) và cha Crétin (cố Xuân).  Hai ông bàn luận với nhau và lập tức cha Crétin sai chú Phán (Kền) mang xe ḅ lên chở cha tôi về Kontum.  Cha Hutinet liên lạc với các bác sĩ Pháp để biết tin và chuẩn bị mọi phương tiện cần thiết để gửi cha tôi đến bệnh viện Banmethuot v́ chỉ nơi đó là gần nhất có thuốc chữa bệnh chó dại và cần chữa trị càng sớm càng tốt. Ở Banmethuot, cha Romeuf (cố Phương) vốn là bạn thân của cha Hutinet đă đón cha tôi ở trong nhà xứ ngài và cứ liên tục trong ba mươi ngày đi bộ tới bệnh viện chích thuốc nơi rốn. Lúc bấy giờ, liệu các cha Việt nam, dầu có mến cha tôi đến đâu có thể làm như các Linh mục pháp đă làm không?  Mọi giai đoạn, Mẹ đă sai những sứ thần của Mẹ để thay Mẹ thực hiện t́nh thương của Mẹ.

 

Đường lối Đức Mẹ đă làm cho những ai đă cầu khẩn đến Mẹ thật huyền dịu.  Tại sao những người không ruột thịt mà lại ra tay lo toan mọi việc cho cha tôi không phải là đường lối của Đức Mẹ hay sao!  Một mẫu nhỏ gạch Lavang kia không phải là trị liệu nhưng là ch́a khoá mở kho trị liệu phải không các bạn?  Khi có dịp tôi c̣n kể thêm về cỏ dại đó đă chữa bệnh dịch tả, bệnh thương hàn và bệnh xuất huyết nữa.  Đó mới gọi tôi quả thực “có t́nh”với Lavang, v́ mỗi lần nghe hai tiếng Lavang, ḷng tôi bao giờ cũng vang lên một nốt nhạc của t́nh yêu mến, cảm tạ đầy thân thương.  Trên gịng đời lên xuống ngược xuôi, tôi luôn luôn được nhận những ơn phúc mà đối với tôi coi như những phép lạ của Chúa ban qua Mẹ, nhất là Mẹ với danh hiệu Mẹ LAVANG.

 

Sau khi hoàn tất mọi việc chữa trị chính cố Phương đă chở cha tôi về lại Kontum. Cha tôi đă được cứu sống và sống măi đến năm 1972 th́ mất.  Tôi xin ngưng kể v́ xe chúng tôi đă đậu trước cổng và chuẩn bị vào bên trong công trường Lavang.

 

Chúng tôi kêu cửa và có người đến mở cho chúng tôi vào.  Như đă kể, cha B́nh và tôi đă đến đây một lần vào năm 1955.  Thời gian quá lâu cho nên cảnh vật đều khác và xem như mới mẽ đối với tôi.  Tôi chỉ c̣n nhận ra ngôi thánh đường đang c̣n rách nát do chiến tranh tàn phá mà đến nay vẫn c̣n giữ nguyên trạng chưa tu sửa.  Để có nơi phụng sự, một ngôi nhà thờ tạm được dựng bên cạnh ngôi thánh đường chính.  Nơi Đức Mẹ hiện ra theo truyền thuyết, một cây đa lớn bằng xi măng cốt sắt đứng sồ sộ làm nên lễ đài Đức Mẹ.  Những công tŕnh vĩ đại nầy đă được kiến trúc sư nỗi tiếng của Việt Nam vẽ kiểu và thực hiện. Đó là kiến trúc sư Ngô viết Thụ là người đă vẽ kiểu tái thiết dinh Độc Lập ở Sài G̣n.  Ngoài cây đa xi măng, những cây cảnh cao lớn chung quanh tạo nên một lễ đài tuyệt đẹp và mát mẽ.  Đối diện với Thánh Đường là công trường Mân Côi với 15 tượng đài của 15 Mầu Nhiệm Vui, Thương và Mầng.  Tượng bằng xi măng to lớn hơn người thường và được sơn trắng.  Tôi thích quang cảnh nầy nhất, vừa đẹp vừa ư nghĩa của quang cảnh cầu nguyện. Phía sau Thánh đường vuờn cầu nguyện.  Vườn cũng được thiết kế kỹ lưỡng với nhiều hoa thơm cỏ lạ.  Có rất nhiều ghế để ngồi, để nghĩ, để suy tư cũng như để cầu nguyện.  Đối diện với Lễ đài hiện ra là những dăy nhà tầng cho khách hành hương.  Chúng tôi đến đây với mục đích kính viếng cầu nguyện và tạ ơn Đức Mẹ với nhiều lần khấn là “con sẽ đến qú dưới chân Mẹ để tạ ơn” v́ rất nhiều ơn lành mẹ đă ban cho gia đ́nh chúng con trong suốt cuộc chiến tranh tàn phá mà gia đ́nh chúng con hề hấn ǵ, không một người nào trong gia đ́nh bị giết. Tài sản vật chất nhiều lần đă biến mất, nhưng sau đó Đức Mẹ lại ban cho cái khác nhiều hơn gấp bội.  Chúng tôi qú gối cầu nguyện lâu và nhiều cảm xúc đến rơi lệ. 

 

Một đều khác thường là ông tài xế cũng mua một bó lá người ta bó sẵn và qú gối cầu nguyện rất thành kính. Ông không phải công giáo, nhưng lần nầy ông nói là đến xin lỗi Đức Mẹ, lần trước ở Trà Kiệu ông đă không tỏ ra thành kính nên Đức Mẹ không ban ơn và phạt xe ông có nhiều trục trặc. Tôi biết chuyện đó v́ ông đă tỏ bày với vài người trong đoàn chúng tôi. Muốn cũng cố ḷng tin, tôi đến gần nói chuyện với ông:

- Gia đ́nh tôi được nhiều ơn lạ nhờ những cỏ cây nơi thánh địa Lavang nầy.  Chú cứ dùng thử và tôi tin Đức Mẹ sẽ ban ơn cho  chú.

 

- Tôi xin lỗi v́ hôm nọ tôi không lên cầu nguyện với Đúc Bà nên bị Đức Bà phạt.

 

- Không Mẹ, Bà nào phạt chú cả. Tôi quả quyết như thế v́ bên chúng tôi luôn tin Đức Mẹ rất thương yêu mà không bao giờ phạt ai cả.  Xe chú có vài cái trục trặc lối đường, nhưng đó là trục trặc nhỏ nhoi v́ chúng ta đă đến đây an toàn và đúng giờ qui định.  Đó là cái thương của Đức Mẹ mà chúng tôi đă cầu nguyện. Tôi tin chắc là chúng ta sẽ đi về tới nhà b́nh yên vô sự.

 

Chú tài xế cười và tỏ vẻ tin tưởng. (Trên đường về xe chú không bị trục trặc nữa). Chúng tôi lưu lại đây gần trọn buổi sáng và bây giờ đă đến giờ cơm trưa.  Chúng tôi liên lạc với các Xơ để xem thử có nấu nướng ǵ để khách hành hương có thể ăn trưa ở đây không? 

 

Chúng tôi được biết: nếu muốn dùng cơm th́ các các xơ có thể giúp nhưng phải hẹn trước v́ ở đây không có thức ăn sẵn mà phải đi mua sắm ở phố. Bây giờ th́ quá trễ rồi. Quả thực chúng tôi không biết nên không dự định ăn trưa tại đây và đă có chương tŕnh ăn trưa trên đường về lại thành phố Huế để buổi chiều viếng thăm thành nội và các lăng tẩm các vua Nguyễn. Chúng tôi cũng đă hủy bỏ chương tŕnh đi Hà Nội v́ nghe nói từ Quăng Trị trở ra sẽ có lụt lũ trong những ngày sắp tới.

 

Chúng tôi lại đến qú dưới chân Mẹ một lần nữa để từ giă Mẹ và bao giờ cũng cùng một lời khấn:  con sẽ nhiều lần đến đây để thăm viếng Mẹ và cảm ơn Mẹ v́ một trăm lời cảm tạ không bằng đến đây một lần để qú dưới chân Mẹ, nh́n Mẹ, cảm nhận t́nh thương và nụ cuời trên gương mặt đầy nhân ái của Mẹ. Chúng tôi đă ra về mà ḷng c̣n lưu luyến muốn ở lâu hơn nữa.   

 

Trên đường về, chúng tôi dừng lại cơm trưa và rất chóng đến thành nội chỉ qua một giấc ngủ thật say. Minh là hướng dẫn viên du lịch nên thao thao bất tuyệt ở đây. Cung đ́nh, cung nội, cung hoàng hậu, cung phi tần, được Minh tŕnh bày rất chuyên nghiệp. Kiến trúc thành nội có những kiến trúc ảnh hưởng tây phương v́ bấy giờ có những người Pháp được kính trọng và có chức quan lớn trong triều đă tận t́nh giúp vua Gia Long trong việc khôi phục nhà Nguyễn cũng như xây dựng cung điện.


Sau tham quan thành nội chúng tôi đi thăm các lăng tẩm ở ngoại ô thành phố.  Để kết thúc, chúng tôi đến Chùa Thiên Mụ vào lúc hoàng hôn.  Tất cả các triều đại đều có hưng suy. Tôn giáo vẫn là nơi làm dịu lại tâm hồn sau những mệt mỏi bon chen cuộc đời.

 

Tiếng chuông ngân ngợi trong đêm vắng,

Hỏi thử ḥng ai đă tỉnh chưa?

 

Trên đường về. Quảng Ngăi.

 

Chúng tôi trở lại Huế khi thành phố đă lên đèn. Một ngày mệt mỏi chạy tới chạy lui thăm viếng.  Rút kinh nghiệm đêm qua ăn bánh gói, chúng bảo tài xế đến nhà hàng cơm nào khá nhất để bù cho đêm qua. Qua một đêm ngủ ngon, chúng tôi lại lên đường trở về.  Mục tiêu tối nay: ngủ đêm tại nhà anh chị Thu, Quảng Ngăi, người mà trong chuyến đi chúng tôi chỉ gặp mặt  cách vội vă và hứa là sẽ trở lại thăm trên đường về. Chúng tôi, tôi dùng chân thăm thành phố Đà Nẵng và Non Nước nơi trước đây tôi đă từng sống một thời gian thử thách. Chùa Non Nước cách nay trên 40 năm vẫn không có ǵ thay đổi lắm. Nhưng cảnh vật chung quanh dưới chân núi của chùa hoàn toàn khác lạ và tôi không c̣n nhận ra những gi tôi đă sống vào năm 1960 khi tôi “trụ tŕ” ở một nhà nguyện, địa điểm truyền giáo ở đây. Tôi nhớ lúc đó chỉ chừng 15 gia đ́nh mới ṭng giáo. Tối đến, tôi thường sinh hoạt với giáo dân, dạy thêm kinh bổn, mở rộng giáo lư và tập hát. Ban ngày rất là thanh vắng và tôi thường dạo chơi trong rừng cát trong vùng và nhiều lần lên núi tṛ chuyện với các vị sư.  Sống trong trạng huống như thế nầy, tôi mới khám phá ḿnh không có ơn kêu gọi sống đời hiến dâng. Từ nơi nầy, tôi đă đổi hướng đi như tôi đă nói ở đoạn trước.

 

Chúng tôi đă đến thị xă Quảng Ngăi và ngủ đêm tại nhà anh chị Thu. Giao t́nh giữa gia đ́nh tôi và anh chị Thu thật đặc biệt như tôi đă kể trước đây.  Đêm nay, chúng tôi có thời gian nhiều hơn để tâm sự, gợi lại những kỷ niệm êm đẹp của đời sống hai vợ chồng mới cưới với những học tṛ mà chúng tôi thương mến, với những người thân thương đă giúp đỡ, thương yêu tôi như anh em, với những địa danh như Sa Huỳnh, Đức Phổ, Trà Câu, Mộ Đức, Ba Tơ, Sông Vệ, vân vân… những nơi chúng tôi đă từng qua lại.  Tất cả nay đă đổi thay, nhưng sự mến thương và quyến luyến của chúng tôi chưa hề thay đổi.

 

Cam Ranh.

 

Cam Ranh là đêm cuối cùng của cuộc hành tŕnh. Tôi có có nhiều kỷ niệm tại đây. Kỷ niệm sâu đậm nhất là được mẹ tôi ủy thác đến đây để lo đám cưới Minh, CVK64, con rể của Cam Ranh. Lúc đó, tôi mới cải tạo về, đang bị quản chế, nhưng v́ sự may mắn, tôi đă đến được đây là đường giây mối nhợ cho cuộc vượt của tôi sau nầy. Tôi c̣n nhớ lời công an dặn tôi: “Tôi cho anh đi 15 ngày. Có thể trễ thêm 1 tuần, nhưng nhớ về chớ đừng đi luôn.”  Tôi cũng không hiểu mấy lời dặn nầy, chỉ mừng rỡ khi được phép đi và cám ơn chú công an đă cho phép tôi đi để “lo t́m đường vượt biên”. Ngày nay tôi trở lại đây, tôi mĩm cười nhớ lại lời dặn của chú công an. Tôi đă giữ uy tín là là không đi luôn lần đó, nhưng đó là khởi điểm. Tôi cũng nhớ lại nhiều bạn bè tôi ở ngay tại vùng biển đă nói:

Tụi tao ở vùng biển, năm lần mườ́ luợt, tiền mất tật mang.  Mầy từ núi xuống, và chỉ một lần là biến mất.

Thế mới gọi là may mắn.

 

Đúng thế!  Trên đời tôi gặp nhiều may mắn. Tôi có thể tóm lại:  Tôi không gỉỏi, không lanh khôn, không nhiều tiền bạc, nhưng chỉ nhờ sự may mắn mà tôi đă gặt hái rất nhiều thành công.  Đường đời tôi cũng không phải là con đường thẳng trái lại rất quanh co trong một đất nước đối diện với chiến tranh chết chóc tù đày. Là người có niềm tin nơi Chúa, tôi rán đọc thánh ư Chúa rất nhân từ khoan dung trên mọi nẻo đường quanh co.  Đường quanh co của chúng ta đối với Chúa là đường thẳng. Đó là đường của Chúa.

 

 

C̣n nẻo đường Việt Nam là những đường quanh co, đường đèo, đường dốc, xuống lên, hay đường thẳng.  Nhưng đường nào tôi cũng yêu mến cả.  Tôi đă đi và hứa sẽ c̣n đi nữa để t́m lại người thân thương, t́m hồn thêng sông núi, t́m vết chân các bạn và cũng trên đường đất nước nầy, tôi xin tạm dừng lại đây để cúi đầu chào tạm biệt các bạn. 

 

Khải50

 

Lễ Tạ Ơn của Rev Phạm Ngọc Quang cvk68 tại Sàig̣n