MỘT TÂM HỒN BAO DUNG

cvk 62 Nguyễn Ngọc Tâm, L.m.

 

Tôi vẫn nhớ một câu nói của Đức Cha Micae năm học 1971–1972, khi Ngài về dạy Chủng viện cùng với lớp CVK62: “Các cậu ạ, cha Faugère đúng là một vị thánh sống… Ngài mà không làm thánh, th́ không ai làm thánh nỗi..”,  hồi đó Đức Cha Micae mới từ giă trường Minh Đức và về dạy chủng viện. Từ đó Ngài mới có dịp làm việc và quen biết Cha Faugère. C̣n chúng tôi là những học tṛ của Ngài từ nhỏ. Từ học 7B đến 4e, nên từ lâu đă nhận ra nơi Ngài một người cha nhân từ, đạo đức.

 

Trong cuộc sống, chúng ta thường có những bậc đàn anh mà chúng ta kính phục. Chúng ta có thể khâm phục một thầy giáo xuất sắc, thông minh, trí nhớ phi thường. Nhưng chúng ta có thể không gọi họ là  thánh. Cũng có những bậc đàn anh chúng ta rất thương mến. Nơi họ, chúng ta thấy có cái ǵ đó dễ mến. Nhưng chưa chắc chúng ta đă phong cho họ là thánh. Thế th́ cái ǵ để chúng ta có thể không ngần ngại coi Ngài như là một thánh sống? Ngài đâu có một công tŕnh bác ái to lớn như Mẹ Têrêxa, người mà không ai ngần ngại, kể cả những người không Công giáo, kính trọng như một Vị thánh. Ngài đâu có tầm Cỡ vĩ đại như Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II mà ngày đám tang, các biểu ngữ đă tôn phong Ngài là một Đại Thánh. Ngài cũng không tỏ ra cực kỳ thông minh hoặc tài năng xuất chúng.

 

Thế nhưng đối với Cha Faugère, một linh mục truyền giáo tại vùng đất nhỏ bé Kontum, chúng ta không khỏi kính trọng Ngài và cảm phục Ngài. Có lẽ khi sống gần Ngài, chúng ta cảm thấy ḿnh nhỏ bé, không phải về mặt thể lư, nhưng chúng ta cảm thấy Ngài có những đức tính mà chúng ta không có hoặc thiếu sót. Chúng ta vẫn chạy theo đức trọn lành. Chúng ta vẫn cảm thấy bị ràng buộc bởi tham sân si. Chúng ta chưa rộng lượng đủ chưa bao dung đủ. Chúng ta muốn phục vụ. Chúng ta muốn thực hiện giới răn yêu Chúa và yêu người như Chúa dạy. Nhưng chúng ta vẫn lấn cấn. Chúng ta vẫn muốn giữ lại cái kiêu hănh làm chúng ta phân b́. Chúng ta vẫn c̣n nhỏ mọn để nói những điều không tốt về người khác. Chúng ta vẫn khó chịu v́ thua kém hoặc thua thiệt. Chúng ta vẫn so đo.

 

Nhưng với người Cha kính mến của chúng ta, cái thánh thiện không phải chỉ nơi đời sống thiêng liêng của Ngài. Dĩ nhiên cái đó là căn bản, là nguồn lực. Nhưng nơi Ngài chúng ta cảm thấy như bị sự bao dung của Ngài cuốn hút. Chúng ta cảm thấy sự tận tụy, ḷng hy sinh của Ngài như hào quang chói chan làm chúng ta ngưỡng mộ. Ngài không muốn khoác mặc thứ hào quang đó, v́ Ngài rất khiêm nhường.  Ngài không muốn ai tôn vinh Ngài. Nơi Ngài chúng ta không thấy cái ham muốn vị kỷ. Ngài nghĩ tới người khác. Nhu cầu của đám học tṛ trước hết, rồi mới đến sự nghỉ ngơi. Ngài thức khuya để chấm cho xong những bài tập. Ngài thức dậy hai, ba giờ sáng để cho một học sinh bệnh cần uống thuốc.

 

Và khi có một giây phút thoải mái, Ngài có thể vừa vuốt râu vừa cười nhẹ với những lời cười đùa của chúng ta, cái cười đơn sơ như trẻ thơ. Ngài không quanh co, không tính toán. Một con người chân thật như thế không hề biết nói sai sự thật và không thể chấp nhận sự gian dối. Sự hiền hậu của Ngài không có nghĩa là chấp nhận kiểu như chúng ta thường nói là ba phải. Ngài hết sức khó chịu khi một người trong chúng ta chỉ trích người anh em khác: “c’ést très mauvais… très mauvais” (như thế là xấu lắm.. rất xấu). Đức bác ái của Ngài không để Ngài yên ổn khi một người nào bị chỉ trích. Ngài không xét đoán chúng ta. Ngài không phán đoán chúng ta.

 

Và như thế chúng ta vẫn cảm thấy nhỏ bé khi ở gần Ngài. Những gịng chữ nầy không được viết ra để Ngài đọc, v́ Ngài sẽ thấy ngượng ngùng. Như đă nói, Ngài không thích được tôn vinh. Ngài chỉ cần chúng ta thương mến Ngài. Và chúng ta thương mến Ngài thật. Những anh em đă đến Pháp, th́ thế nào cũng xuống tận vùng miền nam để thăm viếng Cha Faugère. H́nh như gặp Ngài không chỉ để tỏ ḷng biết ơn. Nhưng c̣n nữa, Ngài như có sức hút ḷng yêu thương. Khi gặp Ngài, chúng ta cảm thấy thoải mái. Chúng ta vẫn cảm thấy như những học tṛ nhỏ bé của Ngài thuở trước. Khi gặp Ngài chúng ta cảm thấy niềm vui trong tâm hồn. và khi gặp Ngài, chúng ta t́m thấy được tâm t́nh hướng thiện mà chúng ta cố gắng nuôi dưỡng những ngày c̣n bé.

 

Kể ra cũng lạ, khi gặp Ngài, một người Pháp to lớn, chúng ta thường trao đổi bằng tiếng Pháp, nhưng chúng ta lại t́m thấy nơi Ngài nét Việt-Nam hơn ai hết, v́ tâm hồn Ngài đă là Việt-nam. Phần lớn cuộc sống của Ngài đă dành cho miền đất thương mến đó. Cho nên những năm tháng trở về quê hương ḿnh, con tim Ngài vẫn hướng về Việt-Nam, vẫn dành trọn cho dân tộc Việt-Nam. Món ăn hằng ngày Ngài vẫn gia vị cho đậm đà bằng nước mắm. Sau những ngày vất vả làm việc, Ngài dành ngày cuối tuần để gửi những gói thuốc, những món quà  về Việt-nam cho những ai đă nhờ Ngài giúp đỡ.

 

Thánh Giêng năm 1982, từ Genève, Tố và tôi lái xe đến thăm Ngài. Khi Ngài c̣n khoẻ, tới thăm Ngài bao giờ cũng có thêm chuyến hành hương đi Lộ-Đức. Ở đó, dưới gầm Vương Cung Thánh Đường,nơi một nhà nguyện nhỏ, Ngài dâng thánh Lễ. Thánh Lễ hôm đó Ngài cầu nguyện cho quê hương Việt-Nam. Niềm đau của đất nước là niềm đau của Ngài. Tuy xa cách ngàn dặm, tâm hồn Ngài vẫn hướng về quê hương Việt-Nam, đặc biệt về những học tṛ mà Ngài thương mến. Và chúng ta sẽ măi măi thương mến Ngài, kính trọng Ngài. Và mặc dầu Ngài sẽ ra đi, Ngài vẫn sống măi trong mỗi một trái tim chúng ta. Nhớ tới Ngài, có lẽ điều làm cho Ngài vui mừng nhất, ấy là chúng ta vẫn tiếp tục yêu thương nhau, bao dung với mọi người, giúp đỡ những anh em thiếu may mắn. Và như thế chúng ta vẫn trân quư giữ ǵn những nét hào quang của Ngài sống động trong mỗi người chúng ta. Nếu được thế, Ngài sẽ rất vui. Và như thế chúng ta sẽ là những người con luôn luôn nhớ tới công ơn của Ngài.

 

Tulsa, Oklahoma, ngày cuối tháng 11.2006