HIA BẢY NGÀN DĂM


Phóng sự Họp Mặt 2006 của cvk50 Nguyễn Văn Khài

 

Nhân dịp Đại Hội CVK 2006 tại Hungtington Central Park, California, chúng tôi đă làm một cuộc hành tŕnh 7 ngàn dặm.  Thật là một chuyến đi dài nhưng vô cùng thích thú !  

 

Khi  tiếp chuyện  với cha Tâm, tôi đuợc yêu cầu : “ Nhờ anh viết bài về Đại hội”, cha nói.  Trong quá khứ,tôi đôi khi cũng “ra mặt” viết vài gịng kư sự, nhất là những lần viếng thăm Việt Nam.  Lần nầy, tôi đă vượt cả ngàn dặm đường đến đây “phó hội” lẽ nào không kể lại chuyến đi kỳ thú nầy.  Như thế là tôi hứa với cha Tâm:

-   Dạ! Vâng.  Con sẽ viết về chuyến đi từ Georgia đến đây, trong đó không thể bỏ sót ba ngày Đại Hội CVK.

 

Tôi đă hứa với cha Tâm, và sẽ kể lại  chi tiết chuyến đi trong đó có những ngày rất thân thương gặp mặt anh em CVK, để những ai chưa có dịp thưởng thức cảnh trí tuyệt vời của mọi nẻo đường miền nam nước Mỹ và không tiện đi gặp mặt anh em CVK có thể thưởng thức mà không phải mất công đi.

 

Thực ra, chương tŕnh đi một ṿng nước Mỹ tôi đă có từ lâu, có thể nói từ thời nhiều mộng mơ tuổi trẻ ở Việt Nam.  Khi ở Việt Nam th́ đó chỉ là mộng tưởng.  Khi được đặt chân đến đất Mỹ, th́ mơ ước đó cũng chẳng dễ thực hiện.  Nhưng từ khi nhận được tin anh em CVK hẹn gặp nhau tại nam Cali, tôi có quyết định biến giấc mơ trở thành sự thật.

 

Cuộc hành tŕnh đă được chuẩn bị chu đáo. Xe Toyota Sienna chỉ mới 43,000 miles, c̣n mới để thử đường dài, chỉ cần thay hai cặp bánh mới cho an toàn.  Bốn “du hành gia” gồm :  Hai cặp ( bốn người,chú em và tôi).  Cuộc hành tŕnh cũng có những thử thách của nó, nhiều lúc phải nghỉ lại: có nên đi hay không. Đường dài mà chúng tôi đă đến tuổi nghĩ hưu, liệu có đủ sức lái xe đi không.  Các con, mặc dầu có tin sức chịu đựng của cha mẹ, nhưng vẫn phải lo và có những ư kiến không tích cực. Tôi cứ nghe và vẫn phải cầu nguyện:  Nếu mọi việc đến suông sẻ là ư Chúa muốn và chuyến đi sẽ thực hiện.  Và ngược lại  và chuyến đi sẽ hủy bỏ.  

 

Ngày 1&2. Garland

 

Mọi chuẩn bị tiến hành  tốt đẹp.  Hành tŕnh bắt đầu sáng sớm Chúa Nhật, (7-23-06).  Mặc dầu chúng tôi đă ngồi vẽ những đường sẽ phải đi, nhưng sau cùng đă đi đường I-20 và mục tiêu đầu tiên là ghé lại thăm Anh Cơ, tại Garland, Dallas, Texas.

 

Anh Cơ, tôi thường gọi thế v́ anh chính là vai anh của tôi.  Tôi rất thân và mến anh v́ chúng tôi cùng sống chung với nhau một thời gian rất dài, 6 năm trong trại tù cải tạo Plei Bong, Pleiku. Anh và tôi cùng ở chung một pḥng và chung một nghề mộc. Người ta thường gọi anh là câu Cơ hay câu Thạch v́ chính anh là thân phụ của Cha Thạch CVK67, DCCT,.  Trước đây vài ba lần tôi cũng đă đến thăm anh trong những dịp đám cưới.  Nhưng lần nầy tôi ghé lại là chỉ một mục đích viếng thăm bạn già mà nghe nói anh bị cột xương sống đi đứng khó khăn. Tôi đến gặp anh, anh rất mừng.  Những chuyện trong dĩ văng đă được kể lại trong những câu chuyện thật lư thú.  Đến nơi mới biết rằng anh thật sự có đau đớn thể xác, nhưng tinh thần và ḷng đạo đức vẫn c̣n sáng chói.  Anh luôn lạc quan vui vẻ.  Anh đi lễ hằng ngày và cầu nguyện nhiều cho tha nhân, cho tất cả. Chị Cơ cũng vậy, chị rất thân t́nh hiếu khách, nói chuyện hoạt bát.  Tôi mơ ước tuổi già của tôi cũng được như thế. Trong bầu không khí vui tươi, chúng tôi không vội rời Garland mà nán lại nhà anh Chị Cơ thêm một ngày nữa, để nói cho hết những chuyện chưa nói hết.  Chúng tôi cũng dùng th́ giờ để đi lễ nhà thờ mới được xây dựng thật to lớn tráng lệ. Anh Cơ cho biết, giáo dân qui tụ rất đông tại đây đă đóng góp và xây nhà thờ cho ḿnh có nơi thờ phụng xứng đáng. Ngôi nhà thờ do các LM ḍng Chúa Cứu Thế đốc xúc xây cất và mục vụ.

 

Ngày 3

 

Sau khi nghỉ chân một ngày hai đêm, chúng tôi lại tái xuất giang hồ. Chúng tôi từ giả xứ sở của những chàng cao bồi Texas sớm để trách kẹt xe. Lộ tŕnh chúng tôi định dừng chân: El Paso (TX) nhưng có thể xa hơn trên đường I-10, nếu trời c̣n sớm v́ chúng tôi tiến về hướng Tây th́ phải kéo lui giờ lại.  Từ Atlanta đến Dallas, TX chúng tôi đă qua 3 tiểu bang: Alabama. Lousianna, Missisippi trên đường I-20.  Nhưng sáng hôm nay chúng tôi lại bắt đầu trên đường I-30 rồi nhập với I-20 rồi lại nhập với đường I-10.  Đường thi dài, nhưng quang cảnh nước Mỹ thật đẹp.  Đường rộng thênh thang, có tiên nghi, có tiếp liệu đầy đủ.  Những bảng chỉ dẫn rất rơ ràng. V́ thế, mặc dầu, chúng tôi lần đầu đi qua, nhưng không hề lạc đường.  Những đường đèo th́ có dốc cao, có ṿng co, nhưng v́ đường thật rông, nên chứng ta quên rằng chúng ta đang đi trên đường đèo.

 

Bang Texas thật là rộng lớn.  Cứ đi trên đường I-20, ta it nhất phải mất đến 1 ngày.  Đất rông và trù phú .  Nông nghiệp và chăn nuôi phát triển.  Kỹ nghệ cũng không nhỏ lại thêm tài nguyên phong phú, nhất là kỷ nghệ dầu hỏa đưa tiểu bang lên hàng nhất nh́ về giàu có.  Texas cũng có sa mạc.  Chúng tôi thường mường tượng sa mạc giống như những sa mạc ở Phi châu, toàn cát là cát.  Nhưng ở đây th́ khác.  Sa mạc cũng có những cây chồi thấp thấp, những cây tựa như lau sậy.  Những loại cây nầy thật giỏi v́ sa mạc khôn khan như thế mà vẫn ung dung sống, cũng biết đùa giỡn, nhảy múa với gió, đùa với những thú vật thuộc ḍng họ lizards. H́nh như khi bắt đầu nhập với đường I-10 th́ chúng ta bắt đầu vào đường trên sa mạc. Nhưng đừng quá bi quan, v́ sa mạc hay không đường sá vẫn tốt, vẫn có những ốc đảo tiếp liệu, chỗ dừng chân nghỉ mệt (rest area).  Có khác là ít có thị trấn và ít xe cộ lưu thông, chỉ toàn những trucks và vans.  Thỉnh thoảng xuất hiện vài chiếc xe (cars). Nếu nó xuất hiện nhiều là dấu hiệu sắp đến thị trấn rối đó. Dọc đường chúng tôi dừng lại ở một rest area, giữa nơi có nhiều gió lộng, để quan sát hàng ngàn những cánh quạt trên đỉnh núi.  Những cánh quạt đó là nguồn điện lực cung cấp điện trong vùng.  Ở ven đường chúng tôi thường thấy nhiều giếng bơm đang hoạt đông.  Bơm dầu hay bơm nước?  Tại sa mạc th́ dầu hay nước đều quí như nhau.

 

EL PASO, là thành phố lớn cuối cùng của Texas, trước khi qua biên giới tiến vào bang New Mexico. Được biết Texas là bang rộng nhất sau Alaska, với  261,797 Sq.mi. nhưng chỉ có 22 triệu dân.  Thành phố lớn phải kể El Paso là một trong những thành phố lớn.  Chúng tôi định dừng chân nghỉ tại đây, nhưng v́ đă  lui lại 2 giờ nên hăy c̣n sớm, nên chúng tôi chỉ quan sát và trằm trồ khen ngợi cái to lớn của thành phố rồi vẫy tay hẹn tái ngô El Paso để tiếp tục tiến vào bang New Mexico.

 

New Mexico trên đường I-10, có cảnh vật cũng giống như Texas cũng sa mạc và rừng cây thấp (chồi). Nhưng những thành phố là những ốc đảo có cây cối xinh tươi, trông tươi mát.  Las Cruces là thành phố của cực nam mà chúng tôi định nghỉ đêm lại quá gần El Paso nên chúng tôi lại bỏ qua và tiếp tục đến thành phố khác.  Trong lúc đang t́m thành phố để qua đêm, chẳng mấy chốc th́ chúng tôi đă qua biên giới và đến Arizona mà trời hăy c̣n sớm.  Arizona dễ nhận v́ đă thấy những cây xương rồng (cactus) xuất hiện hai bên đường cao hẳn hơn rừng cây thấp. Chúng là tượng trưng cho bang Arizona. Chúng tôi đă thấy loại cây nầy nhiều lần, nhưng chỉ trên trên Tivi hay h́nh ảnh.  Đặc tính của nó là đứng trơ gan cùng nắng gió mà vẫn sinh hoa kết quả, để nuôi người dân da đỏ và chim chóc. Chúng tôi đang t́m những cây to lớn và đứng gần để chụp ảnh kỷ niệm và sau cùng cũng đến gần được, nhưng không dám sờ đến v́ có nhiều gai nhọn bảo vệ không thể sờ mó được.  Chúng tôi ngủ đêm tại Benson, v́ không thể đến Tucson kịp trước giờ tối.

 

Benson một thành phố không lớn lắm, nhưng cũng có đủ hotel, motel và quán ăn để nghỉ lại đêm.  Sau một ngày dài, chúng tôi check in ở một motel, đi ăn tối tại một restaurant với beef steak đổi món và đă có một giấc ngủ ngon lành để ngày mai lại tiếp tục hành tŕnh.

 

Ngày 4. Phoenix

 

B́nh minh ở Arizona thật trong sáng và mát mẻ.  Khí hậu sa mạc ngày th́ nóng bức nhưng về đêm th́ lại mát và kéo dài vào buổi sáng khi mặt trời chưa nóng cháy. Chúng tôi ra ngoài tập thể dục, hít hít thở thở, mong sao cho đầy phổi để khỏi phải c̣n chỗ chứa cho khí nóng thường trên 100o F trong những ngày nầy. Sau khi điểm tâm tại chỗ với ḿ gói mang theo và rau tươi đă  ghé mua trong chợ thực phẩm, chúng tôi lại lên đường.  Nếu từ đây đến San Diego, Cali, chỉ c̣n hơn nửa ngày đường.  Theo dự trù chúng tôi chỉ đến đó vào chiều thứ 5, nên chúng tôi phải hoạch định lại lộ tŕnh.  Thay v́ lấy đường I-8 để đến San Diego, chúng tôi cứ thẳng đường I-10 qua Tucson đến thẳng Phoenix, thủ phủ Arizona để thách đố với cái nóng của bang sa mạc nầy.  Đến Tucson, cây cối bắt đầu xanh.  

 

Đừng ngộ nhận rằng Arizona chỉ toàn là sa mạc khô cằn. Ngược lại đây cũng lại là tiểu bang có nền nông nghiệp tiến bộ và lớn đáng kể nhờ hệ thống dẫn thủy nhập điền. Chúng ta hẳn đă nghe nào là Grand Canyon, Grand Canyon National Park, Marble Canyon… đều nằm trong bang Arizona.  Đập Hoover nổi tiếng đă giữ lại nguồn nước lớn của sông Colorado để tưới mát bang sa mạc Arizona.  Thông tin cho biết:  Hằng năm Arizona có trên 300 ngày nắng sáng không mây. Lợi dụng cái nắng sáng nầy, tiểu bang đă có trên 150,000 nhà đă dùng nắng mặt trời biến thành đ́ện năng cần dùng trong nhà  mà không cần phải dùng điện năng nào khác.  Hơn 500,000 nhà dùng điện năng mặt trời để nấu nướng, thắp sáng, sưởi ấm, máy lạnh xen kẽ với nguồn điện công cộng.  Được biết Arizona có khoảng 5 triệu dân.  Nếu b́nh quân cứ 4 người một nhà th́ ít nhất gần phân nửa hay 1/3 tổng số nhà đă lợi dụng mặt trời biến thành điện năng để dùng.  Thật đáng phục!

 

Theo lộ tŕnh thay đổi nên chúng tôi phải có chương tŕnh thăm viếng Phoenix cho hết ngày.  Chúng tôi, đầu tiên muốn đến khu Indian Reserve để xem nó như thế nào.  Tránh vào thành phố, chúng tôi dùng Loop 101 về hướng đông để t́m khu reserve, nhưng chúng tôi lại không t́m thấy.  Chúng tôi đi vào thành phố.  Phoenix thật đẹp và to lớn. Những cầu đều được sơn màu và viền rất mỹ thật.  Dưới chân cầu là những thảm đá màu pink thay cho những thảm cỏ xanh, v́ nơi đây khô khan khỏi phải tưới. Cảnh trí cho chúng tôi cảm tưởng Phoenix là một thành phố màu sắc và rất sạch.

 

Phoenix cũng có rất nhiều nơi để thăm viếng như Arizona Science Center, Phoenix Art Museum…, nhưng với một ngày chúng tôi chọn Thảo Cầm Viên.  Như thế là những giống cây sống trên sa mạc đều có mặt tai đây để chúng tôi tha hồ chiêm ngắm và chụp ảnh. Các thú vật sống trong sa mạc như hươu cao cổ đă cao ngồng ngồng lại c̣n vươn cái cỗ dài để lặt những lá trên những cây cao.  Nhưng cũng thương hại khi chúng phải  cúi xuống uống nước hay lượm những ǵ trên mặt đất. Tê giác cũng có mấy con đang nằm thở kh́ kh́ v́ trời quá nóng chăng.  Cũng có những hầm cho sư tử, cọp beo đủ thứ. Chim đà điểu ở đây có lẽ đang tù túng v́ không có đường dài sa mạc để chạy biểu diễn đặc tính loài chim chuyên trị sa mạc. Sơ qua  vài loại chứ không kể hết.  Đặc điểm nữa là trong toàn khu chỗ nào cũng có ṿi phun hơi  nước tạo sự thoải mái và mát cho khách.  Đi đúng một ṿng của thảo cầm viên th́ cũng vừa đủ cho ngày chúng tôi lưu lại Phoenix.  Bây giờ th́ phải lên đường về hướng tây nam, và ngủ đêm ở ngoại ô để tiện đường xuống lại đường I-8 trên đường đến San Diego sáng hôm sau.

 

Ngày 5.  San Diego

 

Từ đây đến San Diego chỉ hơn nửa ngày nên chúng tôi cũng không vội vàng cho lắm.  Chúng tôi lấy đường 85 để nối với đường I-8.  Trên đường 8 có vài con sông cung cấp nước nên nông nghiệp cũng phát triển, những lá những vườn cây ăn trái.  Qua khỏi Yuma là vào phần đất Cali.  Trèo đèo 5,000 feet rồi xuống khí hậu khác rồi. Càng tiến gần San Diego, th́ càng mát mẽ dễ chịu. Ở đây tuy là thành phố cực nam của Cali, nhưng khí hậu  được biết là ôn ḥa nhất nhờ gần biển.  San Diego là căn cứ Hải quân Mỹ to lớn với nhiều hàng không mẫu hạm. Nổi tiếng nữa là San Diego Zoo và SeaWorld.

 

Chúng tôi đến mục tiêu đúng giờ ấn định: quá trưa.  Ở đây chúng tôi không phải ở khách sạn mà đến thẳng nhà Anh Chị Quang.  Anh Chị quang là hội viên của KMF và cá nhân chúng tôi là sui gia.  Thế là chúng tôi có dịp hội ngộ để ôn lại nhiều kỷ niệm xưa.  Ngoài t́nh thân sui gia, chúng tôi c̣n t́nh đồng hương nữa, t́nh Tân Hương, nơi chôn vùi không biết bao kỷ niệm lúc thiếu thời.  

 

Chúng tôi cũng biết là tối nay sẽ có buổi họp mặt “Tiền đại hội” tại nhà anh Cương.  Trọng và tôi, tuy không quen đường sá, nhưng cũng t́m mọi cách để đến.  Trời tối, lại ở khu quá nhiều đường nhỏ nên chúng tôi đến đó hơi muộn một chút.  Nhưng cốt yếu là chúng tôi đến để gặp mặt anh em.  Như thế hai cha Thắng, cha Tâm cùng đầy đủ anh chi em từ San Jose, San Bernadino, Stanton, Santa Ana.  Vững Nebraska cũng có mặt ở đây cộng với đầy đủ anh em ở San Diego. Khai mạc với Thánh Lễ sốt sắng và tâm t́nh, rồi tiếp theo là bữa ăn tối đặc sản do anh chị Cương khoản đăi.  Tôi không được tham dự từ đầu, nhưng bây nhiêu đó cũng là niềm vui v́ chúng tôi đă dùng được khoản đăi đặc sản ở gia đ́nh anh chị sui rồi.  Anh em gặp lại nhau líu líu lo lo những mừng vui tái ngộ. Ai chưa biết nhau th́ lần nầy biết.  Sau cùng có màn chụp ảnh kỷ niệm.  Tiếng xưa thường gọi là chụp h́nh.  Rồi chớp ảnh cũng có nghĩa như thế.  Động từ “bấm” cũng chung qui là chụp h́nh.  Nhưng hôm nay lại thêm một động từ “bóp” nữa, đă cho anh em trận cười nghiêng cười ngửa.  Số là cha Tâm mời gọi anh  em cùng có vài tấm ảnh kỷ niệm. Chụp nhóm, chụp lớp rồi sau cùng chụp toàn thể bao gồm các mệnh hệ phu nhân.  Người th́ đông, bàn h́nh th́ xem ra hơi nhỏ.  Thông lệ và để cho chắc ăn, một CVK Chị lớn tiếng đề nghị: “Xin bóp thêm một cái nữa”.  Cười ôi là cười!  Là CVK, được xếp hạng thứ 3 sau Quỉ và Ma, ai mà rán nín cười cho được chứ?

 

 

Ngày 6. Long Beach.

 

Tôi rời San Diego để đến Long Beach, v́ chiều nay là khai mạc đại hội.  Chúng tôi đến nhà Mai là điểm hẹn để cùng nhau đến Park ở Long Beach.  Chúng tôi được chú thím Mai chờ cơm trưa cùng với Cảnh chúa đảo Hawai và Thận đă có mặt trước và đang chờ chúng tôi.  Cảnh là CVK62 mà tôi đă từng gặp ở Georgia, nhân ngày đám cưới con gái cách đây 2 năm. Thân th́ tôi chưa biết, nhưng anh em CVK với nhau, hễ gặp mặt, dầu là lần đầu, liền trở nên thân thiết như đă từng quen biết từ lâu.

 

Sau khi ăn uống và nghỉ trưa ở nhà Mai, chúng tôi nhờ Mai đưa tôi thăm viếng vài gia đ́nh bạn thân gốc Kontum trong khi chờ đợi giờ nhập trại vào chiều nay.  Không hẹn, nhưng trùng hợp v́ vào tối Chúa Nhật 30 tháng 7, 2006, lại có một buổi Hội Ngộ của những người gốc Kontum.  Chúng tôi không chính thức ghi tên dự v́ sợ bận bịu với anh em CVK, nhưng chúng tôi đă quyết tâm sẽ dành th́ giờ để đến gặp những bạn hữu mà chúng tôi đă từng sống chết bên nhau trên ḍng đời thăng trầm của Kontum suốt ¾ thế kỷ nay. Và chính việc thăm viếng vài người bạn nầy, chúng tôi báo cho biết là chúng tôi sẽ hiện dện vào tối Chúa Nhật.

 

Trở về nhà Mai, chúng tôi chuẩn bị vào trại.  Đến Long Beach Park, nhưng chưa thấy ai ở đó cả, chúng tôi làm một ṿng du ngoạn xuống băi Long Beach.  Băi tuyệt đẹp và đông đúc tấp nập xe xe người người.

 

Trở về Park th́ người trại viên đầu tiên mà chúng tôi gặp là Lê văn Hạnh CVK55 cùng lớp với Vững. Hạnh và chúng tôi rất thân nhau từ nhỏ, nhưng v́ mỗi người một hoàn cảnh, nên đă không gặp nhau đến 3, 4 chục năm rồi. Nhưng mặc dầu Hạnh ngụy trang rất khéo dưới bộ mặt của một Eistein, tóc bạc phơ lởm chởm, chúng tôi vẫn nhận ra ngay.  Người thứ hai cũng xuất hiện là Sơ Theresita.  Với vẻ mệt mỏi và sau vài phút chuyện tṛ mà tôi đă đại diện CVK tiếp đón ân cần, Xơ đă tự nhiên biến mất.  Tôi cũng nghĩ rằng sau đó Sơ sẽ trở lại, nhưng đến mấy ngày đại hội Sơ cũng không đến. Nếu có ǵ làm buồn ḷng, xin Sơ bỏ qua cho.

 

Hôm nay có sự chậm trễ thật v́ nạn xe cộ rất “đông” vào chiều thứ Sáu.  Chính Cha Thắng và Bố Tâm cũng có sự chậm trễ v́ nạn kẹt xe trên đường từ San Diego đến.  Nhưng rồi th́ mọi người cùng đến gần như cùng một lúc.  Mọi diễn tiến rất nhanh nhờ mỗi người một tay chuyển đồ, dựng trại.  Người mà tôi mong chờ gặp mặt trong kỳ nầy là anh Nhiệm CVK41, cùng lớp với cha Trinh. Cha Trinh trước kia rất thân thiết với tôi và tôi thường được cha kể về anh Nhiệm.  Tôi đă một lần hội ngộ với anh Nhiệm nhân dịp mừng lễ phong chức và lễ tạ ơn ở Wilmington, NC. Chúng tôi tự giới thiệu với nhau và đă thực sự bị giây CVK trói buộc từ đó.  Lần gặp nầy, chúng tôi mừng lắm và chắc chắn sẽ rất nhiều chuyện để tâm sự. Đây cũng là lần đầu tiên tôi gặp “chị dâu” của tôi: Chị Nhiệm. Chị c̣n phong độ lắm. Tôi giới thiệu bà xă với chị Nhiệm:

Chị biết ai đây không?

Th́ chị cũng đoán ra là “em dâu” của chị chớ c̣n ai.

 

Chúng tôi hy vọng sẽ có Ngoan43 (Đờn c̣) sẽ có mặt, nhưng tiếc thay anh đă chuyển về Boston trước ngày đại hôi. Trại viên khoảng trên dưới 100 và hầu hết được các CVK chị cùng tháp tùng.  Đông nhất chắc chắn là gia đ́nh của Anh Chị Minh Ngăi 58.  Người cao niên nhất là anh Nhiệm, CVK41.  Xét ra các CVK trung niên thuộc thế hệ 50 cũng khá: Thuyền, Khải, Trọng, Vững, Hạnh, Thắng...

 

Khi hầu hết các trại viên đều có mặt, Cha Thắng thông báo chương tŕnh tối nay: “Xin mọi người ổn định lều trại của ḿnh, gặp nhau tâm sự xa gần, ăn tối và sau cùng sẽ là Thánh Lễ Khai mạc.”

 

Nhờ anh chi Đức Tâm và gia đ́nh phụ giúp, cơm tối thật là ngon miệng với nhiều món thích khẩu.  Măi gần đến 10 giờ đêm, mới bắt đầu Thánh Lễ khai mạc do cha Tâm chủ sự, cha Thắng đồng tế. Sau Thánh Lễ anh em lại tiếp tục chuyện tṛ, tâm sự. Chúng tôi cùng tụ họp lại, xuống bếp lục lọi để xem c̣n món ǵ nhấm nhí được để kéo dài chuyện CVK đến khuya. Về nước uống “đặc biệt” đă có Cửu đă chuẩn bị đầy đủ.  Sau cùng những “ngôi sao sáng”của đồ đệ Lưu Linh cũng bắt đầu thấm mệt và lui binh về lều, để lặn vào giấc ngủ ngon lành của đêm trại đầu tiên trong khu viên mát dịu của Long Beach.

 

Ngày 7.  Chuyện CVK.

 

Khi chúng tôi thức dậy th́ mặt trời lên cao, nh́n lén chúng tôi qua những tàn lá cây khuynh diệp.  Hầu hết các lều vẫn c̣n im vắng đang chờ các trại viên thức dậy để thở khí mát ban mai. Chúng tôi nhẹ đi về hướng nhà vệ sinh và sau đó làm vài thao tác thể dục cho sản khoái tâm thần sau một đêm trại hơi khó ngủ.  Trong khi chờ đợi mọi người thức giấc, chúng tôi lẻn ra ngoài để tắm rửa, vệ sinh v́ tiện nghi trong trại nhà vệ sinh không được hoàn mỹ lắm. Sau đó chúng tôi trở lại trại th́ mọi người đă ăn sáng xong, và mọi sinh hoạt trong trại rất sinh động và vui nhộn.  Chúng tôi xuống bếp để xem có chừa phần cho chúng tôi không?  Ồ! Ḿ bún và mọi thức ăn sáng c̣n nhiều lắm.  Một buổi ăn sáng ngon lành, c̣n ngon hơn ăn tiệm nữa là khác.

 

Thánh Lễ 10 giờ sáng như đă định trước đây được dời  đến chiều v́ sáng nay có vài anh chi em sẽ rời trại sớm để kịp chuyến bay. Như thế Thánh Lễ chiều thứ Bảy có thể thay thế ngày Chúa Nhật.  

 

Chương tŕnh họp mặt diễn ra lúc 10 giờ sáng. Các tiết mục gồm có:  Khoán đại: gồm tất cả gia đ́nh CVK của ba thế hệ, già lẫn trẻ.  Sau đó các trẻ em tách rời ra và do chị Trung phụ trách, để tránh sự nhàm chán khi “người lớn” phải nói chuyện ”riêng tư”. Cha Nguyễn Văn Thạch 67 cũng vừa nhập trại. Cha Thạch về đây với 2 lư do:  dự lễ khấn của quí thầy ḍng CCT và sau đó dự trại CVK.  Hồ Sỹ Kim cũng vừa đến đứng giờ họp.  

 

Người hướng dẫn chương tŕnh là cha Tâm.  Trước hết mỗi CVK có vài lời vắn tắt tự giới thiệu ḿnh.  Kế đó đi sâu vào 2 trọng điểm :  Bầu lại ban Quản Trị và Kế hoạch hoạt động KMF.

 

Bầu ban Quản trị nhiêm kỳ mới.  Phần nầy mau chóng thông qua v́ mọi người nhất trí lưu nhiệm ban quản trị v́ xét thấy không ai có đủ uy tín và ḷng nhiệt thành bằng ban quản trị đương nhiệm. Nội qui do chúng ta làm ra và cho phép một người chỉ được làm tối đa 2 nhiệm kỳ. Nhưng nội qui cũng có thể sửa đổi khi ¾ nhất trí. (Ở đây 100%)

 

Hoạt động KMF.

 

Gây quỹ KMF :

-banquet (như Cao Ngọc Ảnh )

-giảng tĩnh tâm, lớp Kinh thánh ( Cha Hoàng Minh Thắng)

-Lập chi hội CVK như cha Thạch đề nghị

 

Thực hiện DVD về Kontum.  Cần có những đoạn phim raw tài liệu rối sẽ mướn edit lại. (Tôi xin để đoạn nầy trong Parentheses. Riêng tôi, tôi đă có nhiều quan tâm đến việc nầy, nhưng mọi việc đâu c̣n đó v́ không có những chi tiết cụ thể hầu đi đến chuyện thực hiện.  Cá nhân tôi cũng rất là hạn chế về sự hiểu biết chuyên môn để làm ra một DVD.  Khi gặp ĐC Oanh tại nhà tôi, tôi đă xin phép được dùng mọi cuôn phim và DVD tài liệu của địa phận như phim của cha Simonet, 150 năm truyền giáo Kontum, các DVD về các ngày lễ lớn như Giáng Sinh và Phục Sinh hằng năm, DVD thu phong Giám Mục Hoàng Đức Oanh... và đă được ĐC cho phép.  Đó là những tài liệu phong phú về Kontum.  Nếu có một ai đó có khả năng dàn dựng th́ cũng tạm đủ cho một cuốn phim tài liệu. Nhưng vấn đề: ai sẽ chịu trách nhiệm để làm DVD và chi tiền bao nhiêu cho cuốn phim không được cụ thể nói đến.)

 

Cố vấn:  Đề nghị các huynh trưởng ở trong ban cố vấn để giúp ư kiến.  Hiện diện đ/h CVK lần nầy có các CVK của 40 và 50, và cũng đều đồng ư ở trong ban cố vấn.

 

Sau cùng, Trung đă tŕnh bày những khó khăn vấp phải của KMF không được Liên Bang chấp nhận.  Lư do là cái Tên của hội KMF (Kontum Mission Foundation).  Foundation nghe nó có tính chất chính trị, và có tài trợ khủng bố.  Tổ chức lại nằm trên qui mô quốc tế do một ông chủ tịch ở Rome, một ông kế hoạch ở Thụy Sĩ, c̣n lại th́ ở Mỹ.  V́ thế nay sẽ có sự thay đổi: tên của hội vẫn KMF, nhưng do chữ Kontum Ministry and Friendship thay cho Kontum Mission Foundation. Và đứng tên cho KMF chỉ những người ở Mỹ. 

 

 

Xen kẽ với buổi họp, Trung đă điều khiển những tṛ chơi nho nhỏ hay những bài hát cho sinh hoạt cộng đồng đă tạo bầu không khí  thân mật vui tươi giữa thế hệ già trẻ, cvk anh và chị.  Buổi họp xong là vừa bữa cơm trưa. Những cuộc giao hữu thể thao giữa già và trẻ rất hào hứng trẻ trung trong suốt buổi chiều.

Chiều nay cha Thạch chủ tế Thánh Lễ. Khi chia xẻ lời Chúa, cha đă nhắc lại những gia đoạn  đau buồn khi anh em chủng sinh qui tụ lại và sau đó tan đi và mọi người phải chia tay v́ t́nh h́nh đất nước sau biến cố 75.  Nhưng Chúa quan pḥng có đường lối của Ngài và hôm nay chính bàn tay yêu thương, Ngài đă qui tụ chúng ta nơi đây, để cùng nhau dâng lời cảm tạ Thiên Chúa rồi cùng nhau tâm sự  t́nh CVK.  Cha Thạch chia xẻ rất tâm t́nh và  sống động.  Một bài chia xẻ hay.

 

Đến tối th́ văn nghệ, đơn sơ nhưng vui nhộn. Đêm nay có lẽ mọi người sẽ ngũ ngon giấc hơn v́ đă thấm mệt với một ngày dài hội họp, thể thao, văn nghệ. Have good night! Bonne nuit! Chers amis.

 

Ngày 8:  Bế Mạc.

 

Hôm nay là Chúa nhật, ngày sau cùng của ba ngày hội ngộ CVK.  Ba ngày, tuy ngắn ngủi, nhưng đă nói lên t́nh liên đới, t́nh bạn thật đượm đà.  Dầu các anh chưa một lần gặp nhau, các chị chưa một lần biết nhau, nhưng lạ thay, khi gặp mặt tất cả trở nên thân mật như đă từng quen nhau từ hồi nào rồi.  Các bà đă từng tâm sự:  “Không biết các anh đă cùng nhau uống loại rượu có loại “men”ǵ đó, mà chị em ḿnh cũng bị say lây”.  Đúng như vậy, các chị em họ tự nhiên nhận chị chị em em rất thân, rất t́nh. T́nh CVK có thật đấy!

 

Thánh Lễ bế mạc do cha Thắng chủ tế. Sau Thánh Lễ cha đă thay mặt cám ơn tất cả các bạn CVK đă không quảng xa xôi như Cảnh62 từ Hawai cũng đă lăn lội đến gặp gỡ anh em nói lên t́nh CVK thấm thiết.  Cám ơn gia đ́nh Đức Tâm người đă phục vụ hết mức cho buổi hội với các món ăn không thua kém bất cứ nhà hàng nào và rất chu đáo.  Cám ơn các chị, các em nhỏ.  Nhờ các chị, các em mang lại cho tất cả anh em CVK không khí của một đại gia đ́nh, lớn nhỏ mà không cảm thấy xa lạ. 

 

Cha mời tất cả hăy cùng ở lại ăn trưa trước khi chia tay. 

 

Mỗi người một tay, xếp trại, vệ sinh môi sinh.  Mọi người nắm tay nhay hát bài giả từ và hẹn nhau ba năm sau cũng sẽ tụ về lại chính nơi nầy, một khu viên mát mẽ thơ mông và t́nh tứ.  Faut- il nous quitter sans espoir, sans espoir de retour? .....Ce n’est qu’un aurevoir, amis, ce n’est qu’un aurevoir......  Ce n’est qu’un aurevoir, amis, espérons nous revoir!  (Hát theo điệu ̉,E, Rô Be Đánh Đu.....)

 

Chuyện Đại hội đến đây coi như chất dứt.  Nhưng chuyện của chuyến đi chúng tôi văn chưa hết.  Từ ở Georgia tôi cũng được mời đi dự hội đồng hương Kontum dưới nhan đề “KONTUM HỘI NGỘ”.  Tôi có ngỏ lời mời cha Thắng với tư cách là người Kontum đến chào hỏi mọi người.  Ngài đă nhận và tôi cũng có báo cho họ biết là sẽ có cha Thắng đến.  Mọi người Kontum rất welcome cha.

 

Sau khi tan trại, chúng tôi đến dùng cơm trưa tại nhà Anh chị Giáo Cầm.  Giáo chính là đầu tàu cho buổi họp mặt Kontum Hội Ngộ.  Buổi chiều, trong khi chờ họp mặt KTHN (Kontum Hội Ngộ) chỉ vào lúc 6 giờ tối, tôi lợi dụng thời gian để thăm viếng vài người bạn mà từ khi đến đây đến giờ, chưa có thời gian để thăm viếng.  Thăm viếng xong, chúng tôi quay về  ‘hậu cứ”, nhà Mai 64 để tắm rửa mát mẻ.  Nhà chú thím Mai chính là “hậu cứ” của chúng tôi.  Mai không những là anh em CVK mà lại là đồng quê, đồng quán nữa.  Mai rất rành rẻ đường đi nước bước cộng với sự hiếu khách và tính t́nh vui vẻ nên chúng tôi không ngần ngại lui tới hầu như hằng ngày.

 

Ngày hội ngộ Kontum.  Chúng tôi đến Nhà Hàng, nơi hẹn ḥ những người Kontum.  Chúng tôi đến không sớm, nhưng cũng không muộn lắm.  Tôi đă gặp lại tất cả các bạn mà tôi đă xa cách, có người 10 năm, 20 năm và kể những bạn 40 năm chưa một lần gặp gỡ.  Gặp lại bạn, tay bắt mặt mừng, tôi rất hứng khởi và nhớ từng kỷ niệm từ lúc thiếu thời về Kontum. Mọi người được giới thiệu và đặc biệt có cha Thắng đến chào hỏi mọi người và được mọi người tán thưởng và hân hoan chào đón khi cha xin được nhận là người Kontum v́ chính nơi đó, tiểu chủng viện, đă đào tạo cha nên người và trao cho cha trái tim để suốt đời luôn nhớ và yêu mến Kontum.

 

Tối nay, tôi nghỉ tại nhà anh Nhiệm.  Như đă kể, anh Nhiệm và tôi có một mối cảm t́nh đặc biệt qua cha Trinh.  Anh Nhiệm trước tôi quá xa.  Nhưng tôi biết anh Nhiệm do cha Trinh kể lại. Anh Nhiệm là cháu cha Bề trên Cẩn, có anh Long là em ở Michigan và người chị là mẹ cha Thanh69, NC.  Anh em nói chuyện măi đến khuya mới đi ngủ.  Như thế tôi lại đong đầy thêm một ngày cho t́nh bạn. 

 

Ngày 9.  Little Saigon

 

Chúng tôi quyết định ở lại thêm một ngày để thăm thành phố Little Saigon của cộng đồng người Việt. Chúng tôi chia ra làm hai nhóm.  Nhóm Nữ do người cháu gái đưa các bà đi thưởng lăm những cái hay cái đẹp của thành phố có đông người Việt quản lư và kinh doanh to lớn của tiểu bang miền Viễn Tay nầy.  Riêng Trọng và tôi nhờ anh Khanh trong gia đ́nh Nguyễn Hữu Phú Kontum, đưa chúng tôi đến viếng đài Chiến sĩ Việt Nam rất uy nghi tại Wesminster, và những nơi xảy ra biến cố như vụ Trần Trường...  Có lẽ đàn ông chúng tôi thích cái đó hơn là đi shopping. 

 

Vào buổi chiều, chúng tôi được gia đ́nh anh Chị Khanh Tuyết mời cơm tối tại một nhà hàng.  Ba ngày cho t́nh bạn, một ngày cho t́nh gia đ́nh, chúng tôi cảm thấy thật đầy đủ cho những ngày ở đây.  Ngày mai, sáng sớm, tôi sẽ rời Nam Cali để đi San Jose và San Francisco. Cám ơn chú thím Mai, cám ơn anh Chị Khanh Tuyết và lại một lần nữa cám ơn chị Sương (chị sui) đă đào ngũ để nán lại với chúng tôi để những nụ cựi thêm rạng rỡ.  Bye! Nam Cali.

 

Ngày 10.  San Jose, San Francisco.

 

Nếu đến Cali mà không đến San Jose và San Francisco sẽ là một điều thiếu sót. San Jose là thành phố có đông người Việt sau Santa Ana.  Tôi đă đến đay một lần dịp đi họp CVK lần thứ nhất ở Simi Valley, nhưng Trong và các bà xă chưa đến lần nào, nên chúng tôi phải đến đó trước để thăm gia đ́nh Lâm, Hải, Thọ. Các Anh là con bác Nguyễn Hữu Phú, Tân Hương mà nhiều người biết đến.  Trọng, em tôi là rể ông Phú, nên chúng là thông gia. Ngoài t́nh thông gia ra th́ Lâm vốn là bạn học cùng một lớp ở Tân Hương mà thầy Miên là thầy chúng tôi.  Thứ đến là em tôi, Trọng, đă hơn 30 năm rồi chưa gặp Lâm, nên lần nầy là dịp tốt nhất để anh em gặp lại nhau.  Cũng nên biết thêm:  Bác Nguyễn Hữu Phú có rất đông con trai và gái.  Con trai và con rể hầu hết phục vụ trong quân đội với nhiều chức vụ quan trọng.  Sau 75, hầu hết được nghỉ dài hạn trong các trại cải tạo, trừ anh Lâm.  Ai cũng cho rằng gia đ́nh bác Phú là bạc mạng nhất.  Nhưng sau mưa trời lại sáng.  Ngày nay các con của bác Phú đă họp mặt đầy đủ ở nước Mỹ.  Vận và mệnh mà!  Có mệnh nhưng phải tùy vận.

 

Chúng tôi lên đường sớm để có th́ giờ đi thăm San Francisco.  Chúng tôi đến San Jose sau trưa và đến thẳng Trung Tâm ở đó Anh Lâm và Hải đang chờ đợi chúng tôi.   Gặp lại lần nầy, chúng tôi thật vui mừng. Như đă hoạch định trước th́ chúng tôi sẽ ở lại đây một ngày để có th́ giờ nhiều hơn với miên bắc Cali nầy.  Nhưng chúng tôi lại thay đổi vào giờ chót là chúng tôi sẽ rời San Jose vào ngày mai để có thời gian ghé Las Vegas trên đường về lại Georgia.  Như thế anh Lâm sẽ nghỉ việc chiều nay để đưa chúng tôi đi thăm San Fran. 

 

San Fran có cầu Golden Gate, phố Tàu (China Town), Cable cars  tượng trưng cho thành phố thơ mộng và nhà tù trên đảo Alcatraz và Golden Gate Park là những nơi cần phải thăm viếng.  Nhưng với nửa ngày, chúng tôi chỉ c̣n có thể lái xe đi một ṿng thành phố, nh́n từ xa xa mới thấy cái đẹp, cái  thơ mông của nó.  Anh Lâm đề nghị: “Chúng ta sẽ đi thăm Oakland trước rồi về đi ngang phố Tàu trên đường đến Golden Gate”.

 

San Fran là một bán đảo nhỏ hay có thể gọi là Mũi v́ phía trong là vịnh San Francisco và phía ngoài là biển Thái B́nh Dương.  Có đến 4 cầu bắt qua vịnh và Golden Gate bắt qua eo biển của vịnh nối liền San Fran và Marin Co. 

 

Đi trên cầu San Mateo-Hayward bắt qua vịnh, chúng ta có cảm tưởng ḿnh bay trên mây mù mà phía dưới là biển. Cầu Oakland cũng không kém phần to lớn nói lên được cái giàu có vật chất và trí tưởng tượng của người Mỹ.  Trên đường đến Golden Gate chúng tôi lạc vào thành phố Tàu.  Người Tàu đến đây đă trên 200 năm, nhưng phố Tàu vẫn là phố Tàu.  Điều đó ta nhận ra ngay.  Cũng có những ư kiến cho rằng người Tàu là số một trên thế giới, biết ǵn giữ cái “tàu chính cống” của ḿnh trên đất nước mà người ta cho rằng Hợp Chủng Quốc. Nhưng cũng có những người chỉ muốn rằng ḿnh chỉ giữ lại cái nguồn gốc của ḿnh trong “Melting Pot” v́ trong đó các chủng tộc trên thế giới đến đây pha trộn văn hóa với nhau và cho nhau để trở thành một dân tộc đặc biệt và văn minh nhất của hành tinh. Giữ lại cái “tôi” của ḿnh lớn quá trở ngại cho việc “hội nhập” và mồi ngon cho kỳ thị.  Kỳ thị chẳng qua là “thấy khác”, không giống.  Nếu không giống ít hơn th́ “đỡ khổ”, và ngược lại nếu quá tơ th́ chắc chắn sẽ có lời trách móc rằng: ”kỳ thị quá chời”.  Nhưng trên đất nước nầy, quyền tự do rất lớn.  Ta muốn sống và suy nghĩ thế nào tùy ư miễn sao ta cảm thấy hạnh phúc là được rồi.

 

Nói chuyện lung tung mà quên rằng ḿnh đang chạy trên cầu Golden Gate.  Có người hỏi :” Tại sao gọi là Golden Gate?”.  Anh Lâm giải thích:

Ngày xưa người ta đổ xô về đây để t́m vàng.  Vàng ở đây rất nhiều và người ta thường gọi California là Gold State. Người ta thường đi đường biển và muốn vào vịnh phải qua eo biển (hay cửa) dài quảng 8 Km hay 5 miles. Cửa vào vịnh đó gọi là Golden Gate. Và cầu bắt ngang qua Golden Gate là Cầu Golden Gate.  Như thế Golden Gate là tên của eo biển để vào tiểu bang Vàng chứ không phải cầu được làm bằng vàng hay có phần nào đó là vàng cả.

 

Đúng ra là như vậy.  Cây cầu nầy là một kỳ quan của thế giới ngày nay. Cầu Golden Gate là cầu treo  dài 4,200 ft hay 1 cây số 200m và được coi là cầu dài nhất cho đến năm 1964 là năm hoàn thành cầu Verrazano-Narrows ở New-York.  Cầu được hoàn thành 1937 do Joseph B. Strauss điều khiển.  Thủy triều dâng nhanh, băo táp và sương mù liên miên là những khó khăn thiên nhiên phải đương đầu. C̣n nữa, đặt những móng bê tông dưới ḷng nước sâu với kỷ thuật có khả năng chống động đất là những điều kiện không phải dễ để thực thi. Nh́n cây cầu đồ sộ to lớn nếu không dám nói là vĩ đại, tôi phục tài năng và sáng kiến của kỹ thuật tân tiến của nước Mỹ. 

 

Chúng tôi qua bên kia cầu và dừng lại ở Park bên kia cầu để nh́n về thành phố San Francisco.  Thành phố hiện hiện ẩn ẩn với một màu bạc trong ánh nắng về buổi chiều.  H́nh như màu bạc của thành phố là nét độc đáo của kỳ quan nầy v́ thực sự San Francisco với nhà cửa cũng muôn màu như những thành phố khác, chứ không phải chỉ màu bạc như ta nh́n thấy từ Park đâu. 

 

Bây giờ cũng là lúc chúng tôi phải về lại San Jose.  Trên đường về chúng tôi có thời gian để anh em tâm sự với nhau v́ tuy cùng học với nhau ở tiểu học, nhưng lên trung học th́ mỗi người một ngă ít khi gặp nhau.  Sau biến cố 75, chúng tôi lại càng xa cách.  Đến khi cùng nhau ở Mỹ, kẻ đông người tây, cách nhau ba bốn ngàn dặm làm sao có dịp gặp nhau chứ đừng nói tâm sự.  Nhưng chúng tôi đă có những ràng buộc nào?  Thực ra, Nguyễn Hữu Phú với cha tôi là chỗ thân t́nh.  Từ chỗ thân t́nh tiến đến sui gia.  Chúng tôi thông gia với nhau và có cảm tưởng là chúng tôi có họ hàng với nhau.  Nhân dịp tâm sự, tôi cũng nhắc đến cách đây không lâu, anh Lâm được đài BBC phỏng vấn:

 

Trước đây tôi được nghe nói là anh có trả lời phỏng vấn về cựu TT Nguyễn văn Thiệu do đài BBC thực hiện.  Sự việc đó có không và có như thế nào?

 

Đúng vậy!  Tôi muốn đối chất với họ hơn là một cuộc phỏng vấn b́nh thường.

 

Anh muốn và đối chứng thách thức với họ v́ những điều họ nói không đúng sự thật phải không?

 

Tôi là một trong những nhân chứng c̣n sống và là người ở bên TT Nguyễn văn Thiệu trước 75 và sau nhiều tháng đầu tiên lúc TT Thiệu bắt đầu lưu vong ở Ngoại quốc.  Một đài lớn có tầm vóc quốc tế khi nói lên biến cố lớn của năm 75, họ không thể vô trách nhiệm đổ tội cho tác giả bài viết nếu có sai lầm, trong khi về phần ḿnh chỉ nhận là dịch thuật trung thực.

 

Được mở trúng đài, anh Lâm thao thao bất tuyệt, rất hùng hồn nhưng cũng rất lâm ly bi đát về những bước đường anh đă từng trải qua với gia đ́nh TT Nguyễn văn Thiệu khi trong nước cũng như khi ở ngoại quốc.  Anh bênh vực TT Thiệu v́ những ngộ nhận, không đúng sự thật với chủ trương hạ nhục một người đă từng là tổng thống Việt Nam mà anh đă từng phục vụ với bổn phận phục vụ đất nước. Trên phương diện cá nhân, hay nói về con người của TT Thiệu, có nhiều cái anh rất trách cứ và không đồng quan điểm. Khi TT Thiệu mất quyền làm tổng thống th́ ông là người mất nước cũng như anh.  Lư do đó anh không thể tiếp tục phục vụ một người mà không c̣n dính liền với phục vụ đất nước. Anh đă “ say so long “ với ÔB Thiệu để tự lo cho ḿnh mặc dầu bà Thiệu đă kêu anh ở lại: “Nếu chúng tôi ăn cá thịt chú cùng ăn cá thịt, nếu rau mắm th́ chú cũng cùng ăn với chúng tôi”.  Có t́nh nhưng không có lư v́ anh nghĩ: “không lẽ suốt đời ta chỉ là người đi xách valy cho Ông Thiệu hay sao?” Anh bỏ ông Thiệu có thể cho anh là bất trung?  Là bất trung ư?  Nếu trước đây anh phục vụ ÔB Thiệu với tư cách một gia nhân th́ đúng là bất trung.  Nhưng như đă nói anh phục vụ TT Thiệu v́ ông Thiệu đang phục vụ cho quốc gia v́ thế anh phục vụ cho tổng thống là phục vụ quốc gia.  Tôi chỉ tóm tắt và bỏ qua rất nhiều chi tiết mà anh Lâm không muốn phổ biến, chỉ hạn chế trong gia đ́nh và bạn rất thân mà thôi.  Trước đây, sau khi nghe đài BBC, cha Nguyễn Hữu Tiến có hỏi tôi;

Dượng có biết Nguyễn Phú Lâm không?

 Lâm là bạn học ở tiểu học tại Tân Hương.  Lớn lên tuy trong thông gia nhưng ít có dịp gặp nhau.  

Dượng có nghe Nguyễn Phú Lâm trả lời phỏng vấn trên đài BBC không?

Ít khi nghe đài BBC nên không biết chuyện ǵ anh Lâm đă nói.

 

Rồi cha Tiến thuật lại và vẫn không hiểu tại sao ông Lâm ăn mặc bảnh bao và xách chiếc xách tay mà trong đó chỉ vài tờ báo “play boy” vớ vẫn.  Cha vẫn không hiểu và cũng như mọi người đă nghĩ: “Lâm là nhân viên CIA”  đă đánh tráo tài liệu mật của TT Thiệu.  Chúng ta, Tiến, Lâm, Khải c̣n đây th́ hy vọng có ngày sẽ biết chuyện đó. Như vậy là chúng tôi đă về đến San Jose và chuẩn bị tối nay đi ăn nhà hàng của anh Nguyễn Phú Hải do Anh Lâm và anh Hải chiêu đăi.

 

Ngày 11. Las Vegas.

 

Ăn ngon, ngủ kỹ tại nhà hàng và nhà của anh Hải đó là cao điểm của cuộc hành tŕnh chúng tôi v́ sáng nay chúng tôi bắt đầu cuộc hành tŕnh trở về Georgia.  Trên đường về chúng tôi sẽ ngủ đêm tại Las Vegas.  Las Vegas rất có ấn tượng đối với chúng tôi.  Chúng tôi đă từng nghe đến tên từ khi c̣n ở V́ệt Nam.  Qua đến Mỹ chúng tôi chúng tôi nhiều lần cũng muốn đến đó nhưng chưa có dịp, chỉ thưởng thức qua phim ảnh chứ chưa lần nào nh́n tận mắt.  

 

Chúng tôi đến Las Vegas quảng 4 giờ chiều.  Trời c̣n sáng lắm.  Bên ngoài trời tuy có nóng, nhưng bên trong xe, chúng tôi có cảm giác rất thoải mái với cảm tưởng ḿnh đang ở thiên đàng của ốc đảo trong sa mạc.  Chúng tôi chưa vội vàng “check-in” và đi một ṿng trong thành phố để xem phong cảnh.  Thực ra, chúng tôi đang đi t́m lối vào Hotel Mirrage, nhưng lạc tới lạc lui măi và nhờ thế mà chúng tôi có thời gian nhiều để biết nhiều hơn về Las Vegas. Sau cùng, chúng tôi t́m được đúng cổng vào khách sạn. Chúng tôi tự ví ḿnh như những anh chàng chị nàng Kontum lạc vào tiên cảnh, nên chỉ biết trố mắt há mồm nh́n mà không biết phải theo thủ tục “check-in” như thế nào của thế giới Las Vegas nầy?  Thủ tục thật là rườm rà.  Sau khi dừng xe, chúng tôi phải trao xe cho họ, kể cả ch́a khoá và chỉ cần cho họ biết những món ǵ ḿnh muốn đưa lên pḥng.  Chúng tôi chỉ cần giữ lại biên nhận và đến văn pḥng làm thủ tục thuê pḥng. Đến pḥng rồi th́ chỉ cần gọi điện thoại và nói số pḥng và số biên nhận lúc trao xe th́ chỉ vài phút sau là họ mang valy và đồ dùng đến tận pḥng. Nói th́ nghe xui chảy, nhưng trên thực tế chúng tôi đă có những ngỡ ngàng và chỉ biết nh́n nhau cười cho quên những lo âu bị lạc mất đồ đạc.  Đúng là những anh chàng nhà quê ra tỉnh.

 

Tắm rửa, nghĩ ngơi cho thoải mái trước khi xuống từng dưới xem thiên hạ “giỡn” tiền.  Có đủ các lối đánh bạc nào Poker, Black Jack, Roulette ... và thịnh hành nhất và đông người chơi nhất là kéo máy.  Mỗi lần kéo chỉ mất từ 10c đến 25 c, nhưng kéo măi cũng thua đến bạc trăm bạc ngàn.  Trong suốt buổi, chúng tôi thấy chỉ có 2 người trúng c̣n trăm, ngàn người thua trong đó có chúng tôi.  Phải nói cho đúng là ăn uống ở đây giá hơi cao, nhưng rất ngon.  Chúng tôi chọn đi ăn buffet chỉ có $28/người mà ăn rất thoải mái với các món tây, tàu, ư tùy thích.  Ăn uống xong, chúng tôi ra ngoài đi đến khu Venetian là một khách sạn với phong cảnh của Ư.  Cũng thuyền, cũng nước, cũng nhạc rất lăng mạn của thành phố Venise.  Hai hoạt cảnh : núi phun lữa và cướp biển nuốt hết thời gian buổi tối của chúng tôi và bây giờ chỉ c̣n lui về pḥng với một giấc ngủ ngon lành để ngày mai lại phải lên đường sớm.  

 

Dừng chân lại ở Las Vegas chỉ vỏn vẹn 16 giờ, chúng tôi chỉ biết h́nh ảnh Las Vegas là thành phố lớn nhất, là một thiên Đàng Ốc Đảo giữa Sa mac của tiểu bang chưa đầy một triệu dân, Nevada.  Tạm gọi là Thiên đàng v́ nơi nầy, người ta đến với mục đích t́m thú vui đen đỏ, v́ cờ bạc ở đây hợp lệ, là nguồn tài nguyên của tiểu bang qua các casino,bên cạnh vài cái thoải mái khác cũng hợp lệ. Đa số người dân sống tại đây làm dịch vụ phục vụ du khách trong các khách sạn, các casino và mọi sinh hoạt khác. Chúng tôi đến đây với sự ṭ ṃ và để muốn biết óc sáng tạo, tài kinh doanh tuyệt vời của người Mỹ, đă biến sa mạc trở nên thành phố đầy ánh sáng, với cao ốc muôn h́nh muôn thể màu sắc rực rỡ, lôi cuốn mọi thành phần trên khắp thế giới, từ những vua dầu hỏa tỷ phú đến những người thường t́nh như chúng tôi cũng đều muốn đến đây để nh́n để xem và để trằm trồ khen ngợi. Ai ai cũng hưởng được cái thú vui của ḿnh, đó là đặc điểm của Las Vegas.

 

Ngày 12.  Abuquerque.

 

Sáng hôm sau chúng tôi lên đường sớm.  Sớm ở đây cũng phải 7am v́ lúc đó thành phố vân c̣n ngái ngủ. Chúng tôi không có chương tŕnh phải dừng lại nơi nào nhất định chỉ dừng lại khi trời vừa tối.  Chúng tôi sẽ  dừng chân tham quan Hoover Dam trên đường 93 xuôi nam, nhập với đường I-40 để về Georgia.

 

Hoover Dam được hoàn thành 1936 là đập lớn nhất trong vùng, chận sông Colorado làm nên hồ nhân tạo Lake Mead, cung cấp nước và điện cho Nevada và Arizona.  Xe chúng tôi đă lăn trên Hoover Dam và sau đó dừng lại một parking bên bờ hồ để nh́n cho kỹ công tŕnh thủy điện nổi tiếng trong lịch sử tiến bộ của nước Mỹ mà tên đập là tên của một vị tổng thống Mỹ.  Chúng tôi không có đủ th́ giờ để theo đoàn người tiến vào bên trong đập để xem nhà máy thủy điện. Thiếu sót nhưng cũng đủ vui.

 

Chúng tôi lại lên đường xuôi nam trên đường 93.  Chúng tôi đă nhập đường I-40 và tiếp tục đi về hướng đông.  I-40 là con đường lịch sử có tên Route 66.  Con đường nầy là con đường đầu tiên nối liền hai bờ đại dương đông tây, từ Wilmington biển đông đến đường I-15 trên phần đất Cali. Vết tích c̣n ghi dấu của biết bao triệu người đă đi con đường nầy để đến tiểu bang vàng, California.  Trên đường chúng tôi được xem nhiều thắng cảnh tuyệt vời, khi lên xuống những đèo cao vót đến 12 ngàn feet, được tiếp xúc với người Mỹ da đỏ rất khó mà phân biệt v́ họ cũng đẹp cũng xinh cũng nói tiếng Mỹ không accent.  Chúng tôi biết họ khi giao tiếp và mua những tặng vật mà họ bày bán ở những Rest Area.  Chúng tôi cũng được hưởng những không khí mát mẽ trên đỉnh đèo cao so với không khí nóng của tiểu bang cát Arizona.  Tôi nhớ lại cảm giác lâng lâng khó tả khi lần đầu đến Dalat từ thành phố nóng bức Saigon.

 

Chúng tôi đến Abuquerque đúng lúc phải dừng chân nghỉ đêm tại đây. Abuquerque là một thành phố lớn pha trộn ảnh hưởng văn hóa người gốc da đỏ với Tây ban nha. Con sông lớn Rio Grande và I-25 đă vắt ngang thành phố nầy.  Chúng đến không sớm lắm, nhưng cũng đủ để đi một ṿng trong thành phố để xem nó lớn bé thế nào.  Ở đây cũng có nhiều nơi cần phải thăm viếng, nhất là National Atomic Museum tŕnh bày những buớc tiến của tiến tŕnh chế tạo vũ khí nguyên tử.  Nhưng Abuquerque không nằm trong chương tŕnh thăm viếng chỉ là quán trọ qua đêm trên đường về nhà thôi. Ai đến Abuquerque (thử phát âm theo giọng tiếng Pháp) xin đến thăm các danh lam thắng cảnh giùm tôi.

 

Ngày 13.  Quán trọ đêm cuối cùng.

 

Nếu tính khoảng đường từ Abuquerque đến Atlanta th́ Fort Smith, nơi có 2 CVK56 Viễn và Lài là đúng nửa đường.  Với ư định lúc ban đầu th́ chúng tôi sẽ ghé thăm Viễn và Lài trước khi về nhà.  Nhưng đến đó th́ trời vừa tối, vă lại đến thăm chơi mà vội vàng quá th́ mất vui, ít nhất cũng ở lại một ngày mới hết chuyện nói, nên chúng tôi thay đổi chương tŕnh là ngủ lại Super 8 một đêm cuối cùng. Trong suốt hành tŕnh đây là lần thứ 3, chúng tôi dùng chân ở Super 8 v́ chúng tôi thường đùa rằng: “là khách hàng của Motel Super 8”.  Super 8 là Motel, không sang trọng nhưng cũng khá tiện nghi đối với khách qua đường chỉ cần một đêm để ngủ nghỉ cho thoải mái để hôm sau lại lên đường.

 

Sáng hôm sau là ngày cuối cùng băng qua Arkansas, Tennessee để trở về Atlanta.

 

Ngày 14.  Về đến Atlanta.

 

Chúng tôi rất hứng khởi với ngày cuối cùng trở về nhà.  Chúng tôi đă khởi hành sáng Chúa nhật lúc 6 giờ sáng và về đến Atlanta cũng 6 giờ tối.  Số ngày là 14 ngày và đoạn đường là thiếu 100 miles th́ chẵn 7,000. Chúng tôi có thể nói chuyến đi nầy là chuyến đi lịch sử của chúng tôi v́ trước nhất là thực hiện được giấc phiêu lưu mạo hiểm của ḿnh, thứ đến đem lại cho chúng tôi một cảm giác thực thích thú v́ suốt cuộc hành tŕnh chúng hứng thú nói đùa, cười giỡn với nhau mà không bao giờ có những giây phút phải bực ḿnh, kể cả những lúc chúng tôi đi sai đường hay phải lo lắng sợ hết xăng giữa sa mạc.  Chúng tôi đă từng ngủ ở khách sạn sang trọng ở Las Vegas hay trong lều trại ở Huntington Park với đượm t́nh anh em CVK, ở những Motel qua đường hay ở nhà bạn bè đầy ắp t́nh bạn.  Chúng tôi cũng đă có những bữa ăn dưới nhiều h́nh thức sang trọng trong nhà hàng hay lối ăn của những ngày ở trại, ăn tại pḥng trọ, hay những bữa ăn fast food.  Bất cứ nơi nào, chúng tôi đều thấy ngon thấy lạ v́ trong tâm hồn chúng tôi đang vui vẻ hạnh phúc.

 

Sống ở nước Mỹ, là nước đă cưu mang chúng ta, phục hồi chúng từ công dân hạng 2, phục hồi công xương máu v́ hai chữ tự do, chúng ta nên có thời gian đi một ṿng nước Mỹ. Có đi một ṿng, chúng ta mới thấy hănh diện là chúng ta đă sống và là công dân của một nước có rất nhiều cái nhất, một nước mà hầu hết mọi người trên thế giới nầy mơ ước nhưng không được.  

 

Ước mơ “tiếu ngạo giang hồ” lần nầy đă đem lại cho chúng tôi những cảm giác vui tươi hạnh phúc sẽ là bước đầu cho những “tiếu ngạo” lần kế tiếp.  Nước Mỹ bao la trải rộng trên nhiều múi giờ từ Washington, DC đến tận đảo Hawai. Với 7 ngàn miles của chuyến đi nầy của chúng tôi cũng chỉ một phần nhỏ nhoi so với toàn nẻo đường  nước Mỹ.  Các tiểu bang Alabama, Lousiana, Mississippi, Texas, New Mexico, Arizona, California, Nevada, Oklahoma, Tennessee mà chúng tôi đi ngang qua cũng chỉ 1/5 trên tổng số 50.  Tuy không có thời gian đi tiếp, nhưng xin hẹn lại vào hè năm tới, chúng tôi sẽ làm một ṿng khác từ đường I-40 trở lên.

 

Ṿng quanh nước Mỹ là ước mơ. Ước mơ được đưa lên cao để nh́n thấy nước Mỹ, để cám ơn Thượng Đế, để cám ơn những người đi trước, để cám ơn nước Mỹ đă đưa chúng tôi đến đây.  Từ nơi cao nầy tôi xin cúi đầu chào nước Mỹ và xin thân mến cúi chào tất cả các bạn và xin hẹn các bạn lần đi ṿng nước Mỹ lần tới.  

 

Khải 50


Ái 61, Trọng 50, Nhiệm 41, Thuyền 50, Khải 50 và Cương 58.