LỄ GIỖ THỨ 21 CỦA CỐ GIÁM MỤC PAUL SEITZ

 

LỄ GIỖ THỨ 21 ĐỨC CỐ GIÁM MỤC

PAUL LÉON SEITZ KIM

 


 

Chủ nhật 27/2/2005, lễ giỗ đức cha Phao-lô Kim (Paul Seitz) tại nhà hưu dưỡng của các cha MEP tại Montbeton

 

Hàng năm, những người con thân thương của Đức Cha Phao-lô Kim lại tụ họp với nhau vào dịp tháng hai để dâng lễ và tưởng nhớ đến người Cha thân thương, mà năm nay là đúng hai mươi mốt năm ngài từ trần. Chẳng những họ mà thôi, những ai quen biết và nghe nói về Ngài cũng sẵn ḷng sắp xếp thời gian qụy tụ về điểm hẹn năm nay tại Montbeton, nơi nhà hưu dưỡng của các cha thừa sai Paris, để dâng lễ và tỏ ḷng tri ân người Cha Già đă không tiếc nuối cuộc đời góp phần phục vụ và xây dựng Giáo Hội tại Việt nam. Ai đă đọc lịch sử Giáo Hội Việt Nam đều hiểu được những tâm t́nh và ḷng hy sinh quảng đại của các vị thừa sai, những người đă chẳng quản ngại gian lao hội nhập vào vùng đất xa lạ đó, để mong truyền giảng Tin Mừng cho dân tộc này. Tại thánh lễ giỗ Đức Cha Phao-lô Kim, cách riêng, những nhân chứng vẫn c̣n đó để kể lại cho con cháu hay những công việc và hy sinh âm thầm của vị thừa sai đă không mỏi mệt sống cho những người con của dân tộc này.

 

Năm nay lễ giỗ trễ mấy ngày so với ngày giáp năm. Ngày 27 tháng 2, tại nhà nguyện của các cha MEP, khoảng 45 tín hữu, đa phần là người Việt Nam, ngoại trừ một khách mời của gia đ́nh hai bác Thoại, bà tây gốc việt Giraudel, đă đến tham dự lễ giỗ Đức Cha. Dĩ  nhiên là không thể thiếu sự hiện diện của những người con tinh thần của Đức Cha : gia đ́nh bác sỹ Trần Đức Tường đến từ Paris và hai bác Nguyễn Khắc Định đến từ Montpellier, là những người con của Đức Cha, xuất thân từ gia đ́nh Teresa; bác Thoại gái và anh Hùng, con trai của hai bác Thoại – phải nói rằng, sự vắng mặt của bác Thoại trai trong dịp lễ giỗ bố lần này là moat điều ngoại lệ bất khả kháng v́ sức khỏe không cho phép.

 

Sự hiện diện của năm cha thừa sai người Pháp trong thánh lễ đồng tế, do một cha Việt Nam chủ tế, nói lên ḷng quan tâm lớn lao của các cha đối với giáo hội Việt Nam, nhất là đối với những người con đất việt tha hương. Các cha tuy mệt mỏi, nhưng vẫn cố gắng tham dự và đồng tế thánh lễ : cha Olivier DESCHAMPS, cha Paul BEYSSELANCE, cha Pierre CHASTANET, cha Jean FAUGÈRE trong chiếc xe lăn và cha André RANNOU người đă chia sẻ hết sức hấp dẫn trong bài giảng của Ngài về Đức Giêsu bên bờ giếng Giacob, trong đó, cha nối kết với công việc của Đức Cha Kim là người đă kín múc từ Đức Giêsu Kitô - nguồn nước hằng sống - sức mạnh cho việc truyền giáo của Ngài. Tuy sức lực của các cha ngày càng giảm, nhưng ḷng mến yêu tín hữu chẳng phai nhoà. Xung quanh bàn thờ là những tín hữu nhiệt thành tham dự thánh lễ : gia đ́nh anh chị Chính và các con, gia đ́nh anh chi Mạnh và các em cùng con cháu của họ, anh chị Hoàng Chính Thành và các con, cũng có sự hiện diện của anh chị Nguyễn Bửu Chánh. Thánh lễ được cử hành bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp. Anh chị em cũng nhiệt thành hát những bài thánh ca Việt Nam. Khởi đầu thánh lễ là những lời nhân chứng về cuộc đời của Đức Cha, do bác sỹ Trần Đức Tường chia sẻ với cộng đoàn. Có thể nói rằng, những lo lắng và băn khoăn của đức cha dành cho con chiên bổn đạo không thể nói hết trong vài giây phút. Trong ṿng hai mươi phút đầu thánh lễ, Bác sỹ chỉ tóm tắt vài đoạn đời của Đức Cha: những chăm sóc ân cần cho con chiên, những băn khoăn tạo công việc làm cho giới trẻ, ngay cả những lo lắng về đời sống giải trí lành mạnh cho những người trẻ mà đức cha đă chăm sóc nữa, chẳng hạn nhưng việc tạo dựng dàn trống kèn.

 

Sau thánh lễ là bữa tiệc gia đ́nh, với sự hiện diện của các cha thừa sai và các thành viên thân thuộc. Phải nói rằng, ban tổ chức lo lắng rất chu đáo cho ngày giỗ này : họ gồm anh chị Hoàng Đức Chính (CVK), anh chị Đào Thế Mạnh (cảm t́nh viên và là chủ tịch hội Amis du Vietnam), bác Thoại gái và anh Hùng (cameraman), cũng như những đóng góp nhiệt t́nh của những người thân quen, kể cả những người không thể đến dự lễ v́ lư do sức khoẻ như gia đ́nh hai bác Hoàng. Tuy xa quê hương, nhưng cũng không thiếu những món ăn truyền thống của dân tộc trong ngày giỗ đức cha : bánh chưng, gị luạ, gỏi tôm (do anh chị Hoàng Chính Thành chuẩn bị), thịt kho, dưa muối, cải xào, cơm trắng, quưt, long nhăn, bánh ḅ nướng ... càphê, dĩ nhiên là không thể thiếu những “kút” rượu vang của Pháp ... Không ai quên được ơn nghĩa mà các cha thừa sai đă rất nhiệt t́nh dành cho nhóm. Các ngài đă đón tiếp nhóm như đón tiếp con cháu trong nhà.

 

Chiều hôm đó, khi rời nhà hưu dưỡng Montbeton, tôi thấy cần có dịp trở lại nơi ấy, nơi mà ḿnh có thể t́m và nói chuyện với những nhân chứng lịch sử liên quan đến Giáo Hội Việtnam. Họ c̣n đó, như những cây cổ thụ vốn tích luỹ trong ḿnh những kỷ niệm gắn liền với Giáo Hội Việt-Nam và quê hương. Sách có thể lưu lại những trang sử xanh cho hậu thế, nhân chứng sống động chẳng thể lưu lại măi với chúng ta. Có lẽ tôi có chút duyên để gặp gỡ họ, như cuộc gặp gỡ hôm nay.

 

Toulouse, 27/2/2005

NHC

 

(1) Đúng ngày giỗ là ngày 24/2.

MONSEIGNEUR PAUL SEITZ

Missionnaire de HANOÏ – Évêque de KONTUM
1906 – 1984
SEITZ Paul

q       Né le 22 décembre 1906 au Havre, diocèse de Rouen, Seine-Maritime.

q       Entré aux Missions Étrangères le 14 septembre 1929.

q       Prêtre le 4 juillet 1937.

q       Destination pour Hanoï – Parti le 14 septembre 1937.

q       En mission:         Hanoï, 1937 –1952

q       Évêque le 15 juin 1952

q       Sacré à Hanoï le 3 octobre 1952

q       Kontum: 1952 –1975

q       Expulsé du Vietnam, le 15 août 1975

q       Décédé à Paris (Val-de-Grâce) le 24 février 1984

 

TIỂU SỬ  TÓM TẮT

ĐỨC CHA PAUL LÉON SEITZ

CỐ GIÁM-MỤC GIÁO-PHẬN KONTUM

 

Hằng năm, đến ngày Giỗ của Đức Cố Gíám Mục, LLCVK muốn nhắc lại Tiểu Sử Tóm Tắt của Người, để tất cả anh em CVK cũng như những kẻ yêu mến Người, đọc và nhớ lại h́nh ảnh của Vị Giám Mục mà SỰ SAY MÊ THẬP GIÁ, chính là SAY MÊ TẬN HIẾN CHO ANH EM NGHÈO và t́nh yêu đối với đất nước Việt-Nam thật vô bờ bến.

 

Paul Léon SEITZ sinh ngày 22 tháng 12 năm 1906, tại giáo xứ Notre Dame, thành phố Le Havre, trong giáo-phận Rouen (nay là giáo phận Le Havre). Cậu là con út trong một gia đ́nh có 3 người con. Tổ tiên bên nội của cậu gốc người Alsace (vùng đất tranh chấp giữa Pháp và Đức trong nhiều thế kỷ và chỉ thuộc về Pháp sau đệ nhị thế chiến 1939 – 1945) đă đến lập nghiệp ở Pháp sau năm 1871. Cậu vào chủng viện tu muộn ở Fontgombault (Indre) năm 1925, đọan thi hành nghĩa vụ quân sự ở Maroc. Ngày 13 tháng 9 năm 1929, chàng thanh niên 23 tuổi xin vào chủng-viện Hội Thừa Sai Paris. Vốn sức khỏe yếu ớt, đă hai lần Ngài đă phải ngưng việc học để điều trị. Được thụ phong linh mục ngày 4 tháng 7 năm 1937, Ngài nhận bài sai đến Hànội.

 

Ngài bắt đầu học tiếng Việt ở Kẻ Sở, rồi được phái đến một công đoàn ở Cổ Liêu, chỉ cách tiểu chủng viện năm sáu trăm mét, vào tháng 8 năm 1938, để hoàn tất việc đào tạo thành thừa sai. Tháng 2 năm 1939, Đức Cha Chaize đặt Ngài làm cha phó một giáo xứ cả người Việt lẫn người Pháp ở Hànội. Năm 1941, Ngài được đặt làm tuyên úy Trường Trung Học Albert  Sarraut. Cùng năm ấy, Ngài xây dựng và tổ chức một “trại cho tuổi trẻ”cho giới trẻ Pháp và Việt ở Hànội, trên sườn núi Ba V́. Trại nầy đă thành công rất lớn và ngày 9 tháng 8 năm 1941, các chức sắc chính quyền dân sự cấp cao nhất đă đến thăm Trại. Thánh 12 năm 1943, Trại trở thành “Trung Tâm Tiếp Đón Trẻ Em bị bỏ rơi, Cô Nhi Viện Têrêxa” và đón nhận “một nhóm gồm 80 em nhỏ lang thang ăn xin” của  Hànội. Năm 1945, t́nh h́nh bất an, những biến động chính trị và các khó khăn về tiếp tế lương thực, đă buộc Cha Seitz phải đem cô-nhi-viện của Ngài về Sơn Tây, rồi về Hànội vào cuối năm 1946. Được bố trí ở Nhà Thừa Sai và ở nhiều nơi khác nhau gặp chăng hay chớ, Cô-nhi-viện ở trong trường Puginier,rồi ở trong khu đổ nát của trường Đức Bà Mai Khôi,ngọai ô Hà Nội. Thánh 8 năm 1951, khi có được đất đai, Ngài mang cô-nhi-viện của Ngài đến đó và xây cất lên với sự trợ giúp của Cha Vacher (sau nầy phụ trách công việc xây dựng bảo tŕ chủng viện và Ṭa Giám Mục Kontum),”Thành phố Kitô Vua”. Tháng 2 năm 1951, Cha Seitz giao phó trong tay Cha Pencolé nhiệm vụ trông coi giáo xứ người Pháp tại Hà Nội, vừa được cử làm phó xứ, để Ngài chỉ c̣n điều hành Cô-nhi-viện Thánh Têrêxa. Ngày 26 tháng 2 năm 1952, Ngài được đặt làm bề trên miền Vùng Bắc Đông Dương. Ngày 19 tháng 6 năm 1952, Đức Thánh Cha đặt Cha Paul Seitz làm Đại Diện Tông Ṭa ở Kontum và giám mục hiệu ṭa Catula (ngày 24 tháng 11 năm 1960, Đức Thánh Cha Gioan XXIII thành lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam). Ngày 3 tháng 10 năm 1952, tại Nhà Thờ Chính Ṭa Hà Nội, Ngài được tấn phong Giám Mục từ tay Đức Cha Dooley, Khâm Mạng Ṭa Thánh. Phụ phong gồm có Đức Cha Trịnh-Như-Khuê, Giám Quản Tông Ṭa Hà Nội và Đức Cha Piquet, giám quản tông ṭa ở Qui-Nhơn (sau đó làm giám mục giáo phận Nhatrang, qua đời năm 1967). Đến Kontum ngày 2 tháng 11 năm 1952, th́ sau khi nhận địa phận ở Nhà Thờ Chính Ṭa (Nhà Thờ Gỗ ngày nay), ngày 6 tháng 11 kế đó, Ngài giới thiệu chương tŕnh làm việc của Ngài. Rồi, không phân thời giờ học tiếng Bahnar, Ngài bắt đầu đi thăm 24 quận huyện trong địa phận của Ngài. Thánh Giêng năm 1954 ,v́ những vụ tấn công của Việt-Minh, Kontum phải di tản và trong nhiều tháng, Đức Cha Seitz viếng thăm nhiều cộng đ̣an khác nhau của địa phận Ngài, khi đó lui về Pleiku, Banmêthuột, Sàig̣n và Đàlạt. Sau Hiệp Định Genève ngày 21 tháng 7 năm 1954, và cuộc đ́nh chiến, Ngài trở lại Kontum. Ngài đi xe đạp đến trong tỉnh Kontum ngày 31 tháng 8 năm 1955. Lúc ấy bắt đầu cuộc di cư của dân Miền Bắc, trong đó một số khá lớn lập nghiệp ở Tây Nguyên. Đức Cha Seitz lập những giáo xứ mới cho họ và kêu gọi các linh mục Việt-nam t́nh nguyện coi sóc họ. Đồng thời Ngài cũng bắt đầu một chương tŕnh xây dựng rộng lớn: một ngôi thánh đường ở Pleiku, những ṭa nhà mới cho Trường Cuenot để đào tạo giáo-lư-viên (giảng viên giáo lư, nhà in để xuất bản các sách học và sách đạo bằng tiếng Bahnar, một tổ ấm cho các thiếu nữ người dân tộc, những ngôi trường nhỏ vùng quê, v..v.. Đức Cha gọi đến Kontum một số linh mục thừa sai đă phải rời bỏ Miền Bắc, rồi gọi các Sư Huynh Lasan đến mở một trường trung học (sau nầy là trường trung-tiểu-học Lasan Kim Phước  - ghép tên của hai Vị Giám Mục: Jeannin PHƯỚC và Paul Seitz KIM); các nữ tu th́ phụ trách vườn trẻ, một trường huấn luyện nội trợ cho các cô gái. Ngài hướng các đại chủng sinh về Huế và Đàlạt. Năm 1966, Ngài gửi các tiểu chủng sinh (khi ấy gọi là đệ-nhị-cấp; sau nầy là cấp III, từ Troiśeme đến Terminale) lên Đàlạt, học ngọai trú ở trường Trung Học Adran (của các Sư Huynh Lasan thành lập và điều hành)và tổ chức cho các chủng sinh nầy một Foyer trong bệnh viện tư cũ của Bác sĩ  Sohier mà Ngài mua lại với mục đích nầy. Vào khỏang năm 1970 (chính xác là sau Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, từ năm học 1972 – 1973 cho đến ngày 20 tháng 3 năm 1975), v́ t́nh h́nh chung quanh Kontum ngày càng bất ổn, Ngài đă chuyển các lớp dưới (từ Sept́eme đến Quatŕeme) lên Đàlạt, ở trong Tu Viện Ḍng Chúa Cứu Thế (Đồi Tùng Lâm)*. Năm 1974, Ngài thành lập “Trung Tâm Đại Học” ở Sàig̣n cho các sinh viên người dân tộc thiểu số, trong số đó Ngài gửi một số khá lớn, cả nam lẫn nữa, trong các “gia đ́nh nhận nuôi”, để tiếp tục học các lớp cao hơn. Đức Cha làm rất nhiều, để cải thiện t́nh trạng sức khỏe cho dân chúng. Ngài xây hai bệnh viện nhỏ và một trạm y tế lớn. Khỏang năm 1957, Ngài xây Nhà Thương Minh-Quư ở Kontum do Nữ bác sĩ người Mỹ Patricia Smith điều hành (Minh Quư là tên của hai vị linh mục  -một là thừa sai  - Cha Bonnet Quư và một là người Việt, Cha Minh – đều bị hạ sát dă man đang khi đi làm việc truyền giáo. Bà Bác Sĩ Patricia Smith vừa qua đời tại Mỹ ngày 26/12/2004). Đáp lại lời mời gọi của Ngài, một trăm linh một người cộng tác, gồm bác sĩ, y tá, các người thuộc nhiều tôn giáo, đă đến từ khắp các châu lục, chăm sóc bệnh nhân và người bị thương với ḷng tận tụy và có khi rất anh hùng và đă huấn luyện được những đội ngũ y tá người dân tộc tuyệt vời.

 

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Hàng Giáo Phẩm Việt Nam được thành lập, Ngài trở thành Giám Mục Kontum. Năm 1967, vùng thừa sai Kontum được chia ra: địa phận mới Banmêthuột được thành lập và giao phó cho Đức Cha Phêrô Nguyễn-Huy-Mai. Năm 1971, được Đức Thánh Cha Phaolô VI tiếp kiến riêng. Đức Cha Seitz dâng cho Đức Thánh Cha một hồi kư về t́nh h́nh giáo phận của Ngài. Ngài viết: “Kontum, giáo phận chịu thử thách nhiều nhất v́ chiến tranh, trong nhân sự của Kontum đă có 23 người bị chết thảm, 32 người bị thương nặng và tàn phế, 27 người bị Việt-Cộng giam giữ và 33 giáo xứ bị phá hủy ḥan ṭan, và các tín hữu ly tán”. Một năm sau, 192 cộng đồng Kitô hữu bị tiêu diệt với 45.000 người di tản. Năm 1968, Kontum bị bao vây và bị dội bom; năm 1972 ,thị xă bị chiếm một nửa. Năm 1975, tỉnh Kontum cùng ṭan Miền Nam đă sụp đổ. Thứ Năm Tuần Thánh, ngày 27 tháng 3 năm 1975, Đức Cha Seitz đă tấn phong giám mục cho Giám mục  kế vị người Việt: Đức Giám Mục Alexis Phạm-Văn-Lộc. Ngày 12 tháng 8 năm 1975, Ngài và các linh mục thừa sai của Ngài bị triệu tập đến một hội nghị ở Chu Pao, một làng cách thị xă Kontum 12 cây số. Tại đó, người ta lệnh các Ngài phải rời Việt-Nam trong ṿng 74 tiếng. Ngày 15 tháng 8 năm 1975, tất cả các thừa sai bị dẫn về Sàig̣n, dưới sự canh giữ cẩn mật và bị đưa lên máy bay chở về Pháp. 

 

Kể từ chủng viện ở Phố Du Bac (Trụ Sở Hội Thừa sai Paris), Đức Cha Seitz đă làm chứng trong các báo chí, trên truyền h́nh, trong rất nhiều buổi thuyết tŕnh, về những bi kịch Ngài đă trải qua. Nhiều lần bị tiếp đón như một kẻ gây rối, Ngài đă nhiều phen bị tấn công. Ngài nói chuyện trước các Hội Đồng Giám Mục ở Đức và Ư. Ngài in các cuốn sách của Ngài viết “Những Người Đứng Thẳng” (Les Hommes Debout) và “Thời Của Những Con Chó Câm” (Le temps des chiens muets). Luôn giữ liên lạc với địa phận cũ của Ngài, Ngài quan tâm lo lắng cho các sinh viên người dân tộc được gửi ở Pháp. Ngày 2 tháng 10 năm 1976, Ngài đưa đơn từ chức giám mục Kontum. Ngày 26 tháng 6 năm 1982, Ngài được thấy niềm vui lớn lao cuối cùng đời ḿnh: trong nguyện đường của Chủng Viện Hội Thừa sai, Ngài phong chức linh mục cho hai tân linh mục của giáo phận cũ Kontum: một người Việt và linh mục Bahnar đầu tiên của Ngài. Ngài qua đời tại bệnh viện Val-de-Grâce, ngày 24 tháng 2 năm 1984.

 

Brigitte Appavou, phụ tá Văn Khố M.E.P.