DÂN LÀNG HỒ

(tiếp theo kỳ trước)

(LES SAUVAGES BAHNARS)

của Linh mục Pierre Dourisboure (Cố An)
nói lên

BƯỚC ĐẦU TRUYỀN GIÁO  VÀ KHAI PHÁ MIỀN CAO NGUYÊN KONTUM

(Hồi kư của một linh mục thừa sai.)

 

Đôi lời giới thiệu

 

Linh mục Pierre Dourisboure (Cố An) sinh ngày 19 tháng 9 năm 1825 tại Briscous miền Tây Nam nước Pháp, cận biên giới Tây Ban Nha.

 

Năm 1864, vừa 21 tuổi, sau những năm theo học tiểu chủng viện và đại chủng viện tại quê nhà, Ngài gia nhập Hội Thừa sai Ba-lê. Ba năm sau, vừa thụ phong linh mục, Cha liền được sai phái sang "Địa phận Đông Đàng Trong (Trung bộ Việt Nam) để tham gia xây dựng một miền Truyền giáo mới, nơi các dân tộc Thượng lưu trú tại vùng rừng núi ở khoảng giữa sông Mêkông và biển Đông, do Đức Cha Cuénot (Đức Cha Thể), giám mục địa phận, chủ xướng từ lâu.

 

Sống giữa nơi rừng thiêng nước độc, chịu đủ mọi thứ hiểm nguy : thú dữ, bệnh tật, với cảnh cô đơn thiếu thốn cùng cực, cha đă đứng vững được những 35 năm trên miền truyền giáo Thượng này; trong khi nhiều vị Thừa sai khác, đồng lưu với ngài, đă không ai sống nổi quá 10 năm, cá biệt có vị chỉ sau vài ba tuần đặt chân lên đất Cao nguyên đă phải ĺa trần v́ không chống cự nổi với các ‘hung thần’ sốt rét rừng và kiết lỵ, mặc dù các vị đang ở độ tuổi thanh xuân cường tráng !

 

Cha có về Pháp nghỉ dưỡng bệnh khoảng một năm, rồi trở về lại nhiệm sở núi rừng của Ngài, ở măi cho đến năm 1885. Sau đó, Ngài được gọi về Sài g̣n dưỡng bệnh bằng cách nhận chức danh cha Bề trên Chủng viện. Cách dưỡng bệnh hi hữu này thật bi thảm : nuôi bệnh cho ngày càng trầm trọng hơn, nên chỉ một ít lâu sau, Ngài phải sang Hồng Kông t́m thầy chạy thuốc. Bệnh t́nh không thuyên giảm, Cha phải bỏ Hồng Kông về Pháp. Vừa cập bến Marseille ít hôm, Ngài qua đời ở đó, hưởng thọ 65 tuổi.

 

Vào năm 1929, tức 39 năm sau ngày Vị Truyền giáo này qua đời, Hội Thừa sai Ba-lê mới cho ấn hành thiên Hồi kư "Les sauvages Banhars", mà bạn sắp đọc.

 

Đây chẳng những là một tài liệu quí giá cho người viết sử truyền giáo miền Cao nguyên Kontum, mà c̣n là một tác phẩm khảo sát lư thú và là thiên Hồi Kư đặc sắc, đơn sơ, thành thật, tả chân, đến độ gây cảm xúc mănh liệt.

 

Cha Adrien Launay, trong bài mở đầu quyển Hồi Kư này, lần xuất bản năm 1929, đă viết : "Tất cả những ai có dịp đọc tác phẩm này đều hết lời ca ngợi, và tôi được biết đă từng có người qú gối xuống dâng lời khẩn nguyện sau khi đọc lại trang nào đó trong quyển Hồi Kư này, mắt đẫm lệ…".

 

Người dịch xin mạn phép đặt đầu đề cho bản dịch là "Bước đầu truyền giáo và khai phá miền Cao nguyên Kontum". Như vậy hợp với nội dung thiên Hồi Kư hơn, v́ phần khảo sát phong tục tập quán, cách sinh sống của người Ba-na chỉ chiếm một ít trang thôi; vả lại Hồi Kư c̣n nói đến các dân tộc Sơ-đăng, Giơ-rai chớ không riêng ǵ dân tộc Ba-na.

 

Ngày nay Cao nguyên Kontum-Gia lai được mở mang về đủ mọi mặt, có hàng trăm ngàn dân cư sinh sống. Với tâm t́nh "kẻ ăn quả nhớ người trồng cây", người dịch xin kính tặng đồng hương của ḿnh bản dịch thô sơ của thiên Hồi Kư xuất sắc này.

 

Sài g̣n, ngày 1-10-1972
Lễ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu
Bổn mạng các Xứ Truyền Giáo

 

CHƯƠNG 10

NĂM ĐẦU TIÊN Ở KON TRANG

 


 

Ngày mà Cha Combes bỏ tôi ở lại một ḿnh tại Kon trang là ngày đầu năm 1852. Thoạt người bạn chí thiết nầy vừa từ giă, ḷng tôi bỗng cảm thấy một nỗi buồn da diết, khi trơ trọi một ḿnh, tách biệt với tất cả đồng liêu, để sống giữa những người thượng mà tôi không biết rành ngôn ngữ; bởi như tôi đă nói, tiếng Sơ -đang rất khác tiếng Ba-na. Mặc dầu c̣n lâu mới rành tiếng Ba-na, nhưng ít nhất tôi cũng c̣n có thể dùng nó trong những giao dịch tối cần; nhưng giờ đây mọi sự phải bắt đầu lại. Tôi ở chung nhà với anh em Thượng và nhà nầy chứa đến khoảng năm mươi người gồm đàn ông, đàn bà, trẻ con, ông già, bà lăo, tụ tập hỗn độn trong cùng một dăy nhà chung. Tôi muốn cầu nguyện và hồi tâm nhưng tiếng thanh niên cười, tiếng trẻ la hét, tiếng nói chuyện ồn ào làm tôi đâm lo ra, không thể cầm trí được. Tương lai xem ra đen tối, trống rỗng, không chịu nỗi và thật sự đáng ngă ḷng rồi. Nếu tôi nhớ không lầm th́ năm ngoái cũng vào ngày này, Cha Desgouts và tôi nằm nghỉ đêm trên đất ẩm ướt trong rừng và khi vừa mới lên đường th́ Thầy Sáu của chúng tôi bị thương trầm trọng ở chân. Và lúc ấy chúng tôi đă tự an ủi nhau với hy vọng rằng năm mới khởi đầu dưới dự bảo trợ của Thập giá th́ nhất thiết phải tốt đẹp và nhiều phúc lộc. Lần nầy nữa Thập giá lại đến với tôi, từ những giây phút đầu tiên của năm mới. Nhưng Thập giá xem ra nặng nề hơn, v́ bây giờ chỉ một ḿnh một thân tôi vác ! Ô không, nào tôi có phải thui thủi một ḿnh đâu ! Ôi, chúc tụng Chúa là Đấng đă uống cạn chén đắng của ḿnh th́ Người lại luôn luôn pha chất ngọt ngào vào chén mà Người mời chúng ta uống !

 

Chiều đến, tôi nằm ở góc nhà, trên chiếc chiếu manh, mở rộng con tim tôi dâng cho Chúa các nỗi buồn khổ trong ngày cũng như tất cả mọi nỗi khổ lụy khác mà Chúa c̣n muốn gởi đến cho tôi. Đột nhiên tôi thấy có số đông người Thượng bước vào nhà và cùng đi đến một nơi ở cuối gian nhà, phía đối diện. Lúc họ trở ra, xem ra vẻ mặt buồn buồn. Tôi bèn hỏi bằng tiếng Ba-na một người đàn bà có lẽ cũng biết ít nhiều thổ ngữ nầy, để biết xảy ra chuyện ǵ, và tôi hiểu là có người sắp chết. Tôi liền chỗi dậy đi thăm. Thật xúc động khi thấy một cháu bé c̣n bú nằm thoi thóp như gần tắt hơi. Tôi nhanh lẹ chụp lấy bầu nước lạnh gần đó và làm phép rửa tội cho cháu. Phúc thay cho cháu bé v́ cháu chỉ đợi nhận xong ơn nầy rồi tắt thở vài phút sau đó, linh hồn bay thẳng về trời. Tôi nói với cháu : "Chúc cháu ra đi b́nh an, hỡi thiên thần bé nhỏ của cha; ít ra ở trên trời, cháu hăy nhớ đến cha !" Có cần phải nói cơn buồn phiền chán nản trong tôi tự động biến mất chăng ? Tôi về nằm lại trên chiếu và oà khóc nức nở, khóc v́ sung sướng, v́ biết ơn. Tôi lẩm bẩm : " Tôi đă cứu được một linh hồn bằng giá máu của Chúa Giêsu Kitô !". Và tôi nghĩ đến nước Pháp, nghĩ đến mẹ tôi, cha tôi, tất cả anh chị em tôi, nhớ đến tất cả các sự khó nhọc tôi đă trải qua trên đất liền, trên biển cả, ḷng tự nhủ : "Tất cả những nỗi buồn khổ của tôi đă được trả công xứng đáng, v́ đă cứu được một linh hồn ! Chúc tụng Chúa, ôi Thiên Chúa của con, chúc tụng Người đến muôn thủa muôn đời !".

 

Năm đó Kon-Trang mất mùa lúa đến nỗi khi tôi đến ở được ít lâu th́ dân làng đă không c̣n gạo ăn nữa. Ở Pháp, việc thất thu lúa ḿ sẽ làm cho nhân dân lo âu bởi v́ chắc chắn sẽ xẩy ra nạn đói khủng khiếp. Nhưng ở các xứ nầy, mất mùa không làm người Thượng sợ hăi bao nhiêu v́ rừng núi sẽ cứu họ khỏi đói. Có nhiều giống dây leo và cây cỏ có củ ăn được, gần giống như khoai lang vạy, mặc dù vị nhạt và không bổ dưỡng nhiều, các loại củ nầy cũng tạm duy tŕ mạng sống lẫn sức khỏe cần thiết. Kon Trang hầu như hết gạo ăn. Nhưng cách đó không xa, trên bờ sông Pơ kô, có một làng gọi là Hà-mong, năm đó lại được mùa. Làng nầy trở thành kho lúa dồi dào cho tôi. Thỉnh thoảng tôi đến đó mua gạo, đă giă sẵn chỉ chờ nấu thôi. Tôi gùi gạo trên lưng mang về. Một bà lăo trong nhà hằng ngày nấu cơm cho tôi, và tôi nuôi bà, coi như để trả công cho bà. Bà già đáng thương nầy đang chịu cơn đói như bao người khác và không có sức để đào củ dại ngoài rừng, nên bà rất mừng như vớ được của. Bà gắn bó với tôi và thương xem tôi như con ruột của bà. Sau nầy, khi tôi biết kha khá tiếng Sơ-đang để có thể nói cho bà hiểu, tôi đă nói về Thiên Chúa và bà đă trở thành Ki tô hữu.

 

Học tiếng Sơ đang là công việc chính của tôi trong năm đầu. Mỗi buổi sáng và mỗi buổi tối là thời điểm mà dân làng ít khi vắng mặt, tôi lên nhà rông để cố thu thập ít từ mới và thử áp dụng những từ đă biết. Tất cả những điều tôi đă nói ở trên về những khó khăn trong việc học tiếng Ba-na, th́ bây giờ trong việc học tiếng sơ-đang, tôi lại có đủ lư do để nói rằng việc đó càng khó khăn hơn nhiều bởi v́ ở Kon Kơ Xâm chúng tôi có đông người cùng chung nhau lướt thắng khó khăn và cùng giúp đỡ nhau, trong khi ở đây, tôi chỉ trơ trọi một ḿnh ! Ban ngày, trong khi dân làng làm việc ngoài đồng, tôi đi thơ thẩn trong rừng bao quanh Kon Trang. Tôi phải xấu hổ thú nhận rằng trong những lần cô đơn bách bộ này, những suy nghĩ của tôi đôi khi nhuốm màu đen tối. Mỗi tháng tôi có được một hay hai ngày về ở chung với anh em, thời gian c̣n lại th́ ở Kon Trang một ḿnh, không có Thánh lễ, không có ǵ bên ngoài nhắc nhở tôi một tí về Chúa Giêsu Kitô và về công việc phục vụ Người. Hơn một lần, tôi đă bật khóc. Xin Chúa tha thứ cho con ! Nhưng nỗi buồn không bao giờ kéo dài và những giọt nước mắt đó không thiếu phần an ủi. Với ư nghĩ cho rằng mọi nỗi khổ của tôi là nét đặc thù của ơn gọi, tôi được tăng thêm nghị lực; và hơn nữa, sách Kinh nhật tụng của tôi, người bạn độc nhất và cuối cùng của tôi, đă không bao giờ ĺa bỏ tôi. Tôi đứng đọc kinh dưới một gốc cây nào đó trong rừng, và niềm vui lần hồi trở lại với tâm hồn.

 

Ông chủ của ngôi nhà tôi ở nhờ tên là Lam vốn là một trong những người thượng thông minh nhất mà tôi gặp. Ông có hai đứa con trai, Ngam và Ngui. Trong nhà ở của người thượng, họ chỉ ngăn buồng riêng cho người đă lập gia đ́nh. Nhưng ông Lam góa vợ. V́ vậy ban đêm ông Lam và tôi, mỗi người nằm đối diện nhau quanh bếp lửa, và ông dạy tôi học tiếng Sơ đang. Nhiều khi tôi đọc kinh, nguyện gẫm hay đọc sách đạo đức, tôi bắt gặp ông đang nh́n tôi với vẻ kính trọng. Lúc ấy, tôi hết ḷng cầu xin Chúa soi sáng cho linh hồn đáng thương này. Hai đứa con của ông, nhất là Ngui, chú em, cũng xem ra hết sức chú ư đến tất cả mọi việc tôi làm. Sau vài tháng đến ở Kon-Trang, tôi đă bắt đầu nói được chút ít tiếng Sơ-đang th́ ông Lam thường hỏi tôi về xứ sở, về cha mẹ của tôi, về mục đích khiến tôi đă từ bỏ tất cả mọi điều yêu quí.


- Ông c̣n cha mẹ không ?
- C̣n.
- C̣n anh chị ǵ không ?
- C̣n.
- Vậy tại sao Ông ĺa bỏ họ ?
- Để đến đây dạy dỗ anh em, làm cho anh em tránh xa hỏa ngục và giúp anh em lên thiên đàng.
- Nhưng sau này, ông có trở về xứ sở của ông không ?
- Tôi muốn ở lại đây cho đến chết.
- Nếu vậy ông là người bất hiếu ! Ông không yêu thương mẹ của ông.
- Ông Lam à, bây giờ ông chưa hiểu các sự việc này đâu. Khi tôi nói khá rành tiếng Sơ đang, tôi sẽ dạy ông biết Thiên Chúa. Lúc đó, ông sẽ hiểu rơ điều mà bây giờ đối với ông là điều khó hiểu. Tôi chỉ xin ông đừng nói là tôi không yêu thương mẹ tôi nữa, bởi v́ nói như thế làm tôi đau ḷng lắm !

 

Ông ta im lặng, nhưng vẻ mặt ngỡ ngàng của ông dường như muốn nói : "Tất cả những điều đó có nghĩa ǵ ? kỳ lạ thật ! "

Vừa khi biết kha khá tiếng Sơ-đang đủ để giao tiếp, tôi bắt đầu theo dân làng Kon-Trang đi mua bán tại các làng Sơ -đang làm nghề rèn, bởi v́ tuy cùng chung bộ lạc, nhưng dân làng Kon Trang không khai thác mỏ sắt, cũng không có ḷ rèn. Tôi muốn thuật lại ở đây chuyến du hành nho nhỏ của tôi đến làng Tơ-Proh. Nhưng trước tiên, ta nên biết giữa vô số điều mê tín dân Sơ đang mắc phải th́ điều ăn rễ sâu nhất trong tâm trí của họ đó là niềm xác tín lành-dữ dựa vào tiếng chim kêu. Không phải mọi loại chim đều có tiếng kêu báo điềm; hầu như chỉ có một loại mà tiếng kêu của nó có tính cách dự báo các biến cố thôi. Các chú thầy bói nhỏ có cánh này luôn luôn đi từng bầy năm sáu con và tiếng kêu của chúng nghe rất kỳ lạ. Mỗi con tha hồ hét, giọng khác nhau và hoàn toàn chơi nhau, đến nỗi các tiếng hét của chúng hợp lại thành một bản nhạc lộn xộn chói tai không sao chịu được. Tùy theo chúng kêu phía trước hay phía sau người đang đi, bên trái hoặc bên phải, v.v. mà hiểu rằng : hoặc là ḿnh sẽ mang họa, nếu tiếp tục đi; hoặc sẽ có lợi trong chuyến đi đó; hoặc điều ǵ khác nữa, muôn h́nh vạn trạng ! Vậy một ngày kia tôi theo năm sáu anh em dân làng đi Tơ Proh. Dọc đường anh em rất phấn khởi v́ nghe được tiếng chim báo điềm thuận lợi. Suốt quăng đường đi, chúng tôi thường nghe chim hót và cũng lạ là giọng của chúng không lần nào đi ngược với lời tiên báo gặp hên lúc đầu. Rồi ra sẽ thấy chuyến đi của chúng tôi hết sức thoải mái ! Chúng tôi đă đến Tơ Proh một ít phút trước khi mặt trời lặn. Điều đầu tiên là dân làng Tơ Proh la lên từ trong chiến lũy rằng họ đang "dieng" (ở cữ) và chúng tôi không được phép vào làng. "Ô hay - một người trong bọn chúng tôi nói - chim đă báo cho chúng tôi là rất thuận lợi cơ mà." Họ trả lời : kể cũng lạ đấy; nhưng sự thật là chúng tôi đang "deng" và "deng" rất lớn. Chẳng những chúng tôi không thể cho vào làng, mà cũng không thể cho các anh gạo ăn, hơn nữa chúng tôi lại "deng" trong ba ngày liền."

 

Anh em Thượng trong bọn chúng tôi không hiểu tại sao cả, họ vô cùng bỡ ngỡ, nhưng lại c̣n ngỡ ngàng hơn nữa v́ chúng tôi chưa hết điều cùng cực. Thấy rằng không được làng tiếp đón và chờ đợi cũng vô ích, bụng th́ đói lại phải ngủ ngoài trời v́ lệnh cấm kéo dài đến ba ngày, bọn chúng tôi mới quay lưng đi trở lại để xin trú nhờ một làng khác nằm trên đường về.

 

Trời vừa sập tối, bọn tôi gơ cửa làng Hơ Gang. "Chúng tôi "deng" - Họ trả lời mà không mở cổng. Mưa bắt đầu rơi; chúng tôi tiếp tục đi dưới mưa chừng một tiếng rưỡi đồng hồ nữa mới đến làng Kơ Dem. Lại thêm một thất vọng : Kơ Dem cũng "deng". Mưa rơi tầm tả và chúng tôi ướt mèm ! Thêm vào đó trời tối đen, khắp nơi đều đầy dẫy những con vắt, v́ thế chân cẳng chẳng mấy chốc đều phủ đầy những con vật quái ác hút máu này; và để hạnh phúc được thêm dư tràn, mưa đă to rồi giờ đây lại trở nên như thác đổ; mấy bó đuốc soi đường đều tắt ngấm; sấm chớp liên hồi làm chúng tôi lóa mắt. Không thể nào đi tiếp được nữa. Chúng tôi dừng chân một lát, lúc ấy qua ánh chớp, có người chợt thấy một cái cḥi đổ nát trong nương rẫy bỏ hoang, chỉ một góc cḥi c̣n có tranh che phủ, cả nhóm chúng tôi cố rúc vào đó. Tôi mệt đến nỗi dù áo quần ướt mèm, dù bị vắt cắn, tôi thiếp ngủ ngay. Sau giấc ngủ nặng nề độ một hai giờ ǵ đó, tôi thức giấc v́ lạnh. Các bạn tôi đă đốt được đống lửa trong góc cḥi và đang nướng một trái bí lớn do ai đó đă vấp phải cách cḥi vài bước. Rồi họ nói với tôi cọp vừa đến viếng thăm cḥi, nhưng thấy có lửa, nó sợ, bèn bỏ đi. Tôi cắn vào miếng bí người ta chia cho tôi. Hầu như rất khó ăn, nhưng khi bụng đói th́ bất chấp. Cuối cùng trời sáng và chúng tôi lại lên đường. Chúng tôi phải lội qua một con suối tràn ngập nước v́ cơn mưa to vừa rồi. Khoảng mười giờ sáng th́ chúng tôi về tới Kon Trang. Từ ngày đó, mỗi lần gặp lại một trong những anh em bất hạnh vừa kể, tôi liền hỏi :"Nầy, bạn c̣n tin vào khoa chim bói nữa không ? Đối với tôi, trước kia tôi không tin, nhưng quả thật từ ngày bọn ḿnh đi Tơ Proh, tôi bị cám dỗ phải tin mạnh hơn ! ".

 

Sau chuyến đi tôi bị chứng kiết lỵ hành chừng bốn năm ngày, suưt chết. Ngôi nhà Ông Lam, như tôi đă nói, chứa khoảng năm mươi người, ở chung hỗn độn, và cũng không có một góc nào dành riêng cho tôi. Suốt ngày đêm tôi buộc phải sống chen chúc giữa những người Thượng tội nghiệp nầy, lúc nào cũng lồ lộ trước mắt họ. Hăy tưởng tượng hoàn cảnh khó khăn của tôi suốt thời gian bị kiết lỵ. Có ngày tôi phải đi ngoài khoảng bốn mươi lần, và mỗi lần như vậy để tránh làm chướng mắt họ, và dù yếu run rẩy cực kỳ, tôi cũng phải cố hết sức lết ra khỏi làng cho đến tận cánh rừng. Cuối cùng bởi hoàn toàn kiệt sức, tôi đă không thể trở về nhà nổi nữa, phải ở lại trọn ngày trong rừng, nằm dài trên đất, không một giọt nước thấm lưỡi. Về thức ăn, chẳng những tôi không thấy đói mà c̣n thấy khiếp nữa. Anh em Thượng thấy tôi ở trong t́nh trạng như thế, tưởng là tôi sắp chết và họ hoảng sợ. Họ tin có ma và rất sợ ma; nhất là một người ngoại quốc như tôi mà chết ở làng của họ th́ chắc chắn sẽ là một con ma dữ tợn hơn những con ma khác ! V́ lo âu như vậy, nên dân làng đă đến nhiều lần cầu xin tôi đừng về quấy phá họ sau khi tôi chết ! Họ nói :"Chúng tôi rất buồn thấy Ông bệnh, nhưng nếu cơn bệnh bắt Ông đi, th́ Ông hăy thương xót chúng tôi, đừng làm chúng tôi sợ." Tôi gần như bí thở, thế mà buộc ḷng phải nghe những lời năn nỉ ấu trĩ của họ và phải cố gắng tối đa trấn an họ. Một ư nghĩ đen tối chợt xâm chiếm tận đáy ḷng tôi : ḿnh sắp chết và chết cô đơn thui thủi một ḿnh, không một linh mục trợ giúp ! Tôi đă lặp lại lời nguyện phú dâng hoàn toàn cho thánh ư Chúa, và Chúa nhân lành đă thương xót tôi.

 

Không một đồng nghiệp nào biết tôi bệnh, thế mà lúc tôi tưởng là đă tận số, mất hết hy vọng khỏi bệnh, tôi lại thấy Cha Combes lù lù bước tới. Có lẽ thiên thần bản mệnh của ngài chỉ cho biết tôi đang cần đến ngài, dù ngài đến không v́ mục đích nào khác hơn là để thăm người bạn vốn tưởng đang mạnh khoẻ. Tôi không sao diễn tả cho xiết được cảm xúc dấy lên trong ḷng khi nh́n thấy ngài; tôi tin chắc chính xúc cảm vui mừng là nguyên nhân khiến tôi đột ngột lành bệnh. Thấy t́nh trạng của tôi, Cha Combes không cầm được nước mắt, và hiểu được lư do làm tôi xúc động. Ngài cũng mủi ḷng và kêu lên :"Ôi. Lạy Thiên Chúa, Người nhân lành biết bao !" Tôi đáp lại : "Vâng, ôi lạy Người, Thiên Chúa nhân lành !". Từ năm sáu ngày rồi, tôi đă không ăn một thứ ǵ; Cha Combes bèn khuấy bột gạo. Tôi đă ăn ngon miệng, và hôm sau lành bệnh hẳn. Lạ lùng !

 

Tôi không thể kể hết bao nhiêu trường hợp Chúa Quan Pḥng đă ưu ái phù trợ, cứu giúp tôi, đă giải thoát, an ủi tôi, khiến tôi hân hoan. Tuy nhiên, thêm một chuyện nhỏ nữa trước khi chấm dứt chương nầy. Trong những tuần đầu lưu trú tại Kon Trang, người ta cho tôi biết là nước chúng tôi uống, được dẫn đến từ một cái ao rất xinh, nằm trong cánh rừng cách làng không bao xa, và tôi ṭ ṃ muốn đi xem. Tôi không hề biết dân làng đă đặt nhiều bẫy thú chung quanh ao đó, như họ thường có thói quen làm như vậy cạnh các vũng nước trong mát để bắt nai. Chắc không cần tả chi tiết các bẫy nai nầy làm ǵ. Chung quanh ao rào dậu bằng một hàng dày, cứ cách quăng chừa lại những lỗ trống hoặc cửa để con thú chun vào. Tại mỗi cửa vào nầy, người ta giăng ngang một sợi giây nhỏ mà mắt thường khó trông thấy, giăng làm sao để lúc vào cũng như lúc ra, khó ḷng mà không vướng. Chạm nhẹ vào sợi giây sẽ làm bật một cái rờ-so phóng mạnh ra một đoạn tre vát nhọn có sức đâm thủng thân ḿnh một con trâu lớn xuyên hông nầy sang hông kia. Bên cạnh các bẫy, người thượng cắm những dấu hiệu báo cho biết có bẫy; và v́ được thông báo có nguy hiểm như vậy cho nên hiếm khi có người bị nạn. Nhưng tôi, tôi không am tường thói quen của họ, cũng như không hiểu ư nghĩa các dấu hiệu, tôi đă thản nhiên lao vào ! Tôi đă chui qua một lỗ trống và sau khi ngắm nh́n ao hồ thoả thích, tôi lại trở ra cũng qua lỗ đó. Vừa ra khỏi cửa th́ một người dân tộc hớt hả chạy đến, mặt mày tái mét. Chính anh ta đă đặt bẫy. Một người đàn bà đă trông thấy tôi đi về hướng nầy, và v́ không dám nói với tôi, nên đă vội vă đến báo anh ta rằng tôi đang dạo chơi phía hồ nước. Anh ta hỏi tôi :


- "Ông có đến tận ao không ?
- "Có chớ, sao lại không ?
- "Ông đến đây mà xem.

 

Và anh ta dẫn tôi đến chỗ tôi vừa chui vào chui ra. Anh ta cầm cây gậy chạm vào sợi giây; chiếc lao bằng tre vụt mạnh đâm ngang, tôi sợ xanh cả mặt mày ! Lư giải làm sao việc tôi đi vào rồi đi ra mà không bỏ mạng ở đó ? Mặc cho ai cho đó là một trường hợp ngẫu nhiên cũng được, tôi thương cho họ. C̣n tôi, tôi thấy có ngón tay của Thiên Chúa can thiệp, và tôi cám đội ơn Người đă thương cứu chữa với trọn tâm t́nh.