BÍ TÍCH THÁNH TẨY

      

BÍ TÍCH THÁNH THỂ

VICARIAT APOSTOLIQUE DE KONTUM
P.M.S. VIÊTNAM

PAUL SEITZ
Vicaire Apostolique

Kontum le 14 Mars 1953

Très Rérend Père,

Après mes réflexions et avoir imploré l'assistance du divin Martyre, je ne peux plus tarder davantage à recommander à votre bienveillante attention quelques éléments du Problème Montagnard, tells qu'il m'a été donné de les découvrir depuis que j'ai pris en charge de ce Vicariat, et à solliciter de vous la fondation d'un Monastère Rédemptoriste à KONTUM.

Les populations des Hauts-Plateaux arrivent présentement à un tournant de leur histoire qui, à mon sens, sera décisif pour leur avenir: ou la mort, par refoulement et extinction, ou le salut, par évolution et christianisation.

Des conditions exceptionnelles, d'ordre géographiques et historiques surtout, ont permi cet extraordinaire conservation et survivance de peuplades primitives, stoppées à l'âge du fer, jusqu'en plein XXè siẺcle, Ces circonstances ont été, pendant des millénaires peut-être, comme une muraille de Chine imperméable. Mais au cours du demi-siècle dernier, et depuis quelques années surtout, cette muraille s'est écroulée.

Désormais ces peuplades, que l'on peut évaluer à près d'un millions d'individus, qu'elles veuillent ou non, se trouvent brutalement happées dans le sillage des nations civilisées.

La pénétration des Missionnaires en 1850, puis la prise en charge de l'Administration francaise, enfin le dernier acte politique du rattachement des Hauts-Plateaux au Domaine de la Couronne, avec comme conséquence la perspective certaine de l'immigration massive viêtnamienne, font que désormais ces tribus sont entrainées dans un grand courant qui les conduira à la vie ou à la mort, suivant que les forces en scène, en l'occurance le Gouvernement et l'Eglise, prendront conscience de leurs responsabilités.

Or des signes évidents, bien que modestes encore, se font jour qui démontrent les virtualités d'évolution de ces peuplades. Par ailleurs, sur le plan strictement religieux, on peut dire que s'amorce déjà chez elles un phénomène semblable à celui qui depuis quelques années ébranle l'Afrique noire: les demandes de conversion, par villages entiers, ne sont pas rares. Et cet ébranlement hors du paganisme ne se fait pas, hélas! au seul profit du catholicisme. Les protestants, influents, bien équipés et organisés, ont déjà de nombreux adeptes sur le Darlak et le Haut Dongnai.

Un plan, tout récent, de mise en valeur de ces régions, va organiser l'immigration viêtnamienne. Cette immigration est une arme à deux tranchants. Elle est de l'ordre de ces phénomènes naturels et historiques: le peuple le plus dynamique et le plus prolifique, entrainant la mort du plus faible. C'est une force aveugle, dont nous pouvons tout craindre si nous la laissons se manifester sans faire intervenir la raison, éclairée par la foi, et le Coeur.

Je pense, et tous les missionnaires avec moi, que les Montagnards ont droit à la vie; qu'il y a place suffisante sur ces terres immenses pour que tous y cohabitent; bien plus, qu'il y a possibilité et même intêrêt à ce que progressivement les Montagnards s'intègrent à la nation viêtnamienne. Oeuvre de longue haleine, à laquelle la force du christianisme peut et doit présider, comme naguère au Viè śecle, sous l'influence du ferment chrétien, la horde des tribus barbares déferlant sur le monde gallo-romain s'est fusionnée, amalgamée, pour constituer des nations nouvelles et engendrer la haute civilisation du moyen âge. Il me serait intolérable de penser que les MoƯs pourraient être réduits, dans quelques décades d'années, à l'état de réserves. . .

Mais notre seule Mission de KONTUM, qui s'étend sur 70.000Km2, avec 700.000 habitants, dont 26.000 chrétiens seulement, ne compte qu'une quarantaine de Missionnaires.

Il y a donc place pour de nombreux ouvriers apostoliques. En particulier, il me semble que vous auriez sur ces Hauts-Plateaux un champs d'apostolat remarquablement adapté à vos fins particulières.

Outre que la présence d'un Monastère fervent est toujours une source de grâces spéciales pour le lieu qui l'abrite, l'oeuvre des Missions paroissiales correspondraient parfaitement à l'organisation de nos districts, ̣u il convient de parfaire et d'approfondir la formation chrétienne de nos Montagnards. Au monastère même, un centre permanent de retraites serait d'une efficacité certaine auprès des élites montagnardes.

Mais il y a plus. Votre influence serait également nécessaire auprès des communautés viêtnamiennes existantes ou à venir, afin de former la race dynamique et conquérante à son rôle d’éducateur et d'apôtre auprès des montagnards. Cette immigration est une arme à deux tranchants, disais-je. . . c'est à nous missionnaires, séculiers ou religieux, qu'il appartient d'en faire un instrument au service de la plus grande gloire de Dieu et du Salut des Montagnards. L'amour même que nous avons voué au Viêtnam ne nous commande-t-il pas d'essayer de l'engager dans cette noble voie?

C'est à cette oeuvre immense et difficile que je vous convie aujourd'hui. J'implore les lumières du Saint-Esprit afin qu'Il vous éclaire et, si telle est la volonté de Dieu, qu'Il vous donne les moyens de répondre à mon invitation, car, en vérité, vu dans ces perspectives, Kontum n'est-il pas un grand diocèse qui mérite le privilège de votre présence. . . ?

Vous savez par ailleurs toute la profonde estime et amitié qui me lient aux Pères Rédemptoristes, j'ajoute donc que ce me serait personnellement une joie de voir vos religieux partager nos espoirs et nos soucis sur ces montagnes.

Uni par la prière, je vous assure, Très Révérend Père, de mon affection et de mon religieux dévouement in Christo Jesu.

Signature : P. Seitz

Vic. Ap. Kontum

VICARIAT APOSTOLIQUE DE KONTUM
P.M.S. VIÊTNAM

PAUL SEITZ
GIÁM-QUẢN TÔNG-T̉A

Kontum, ngày 14/03/1953

Cha kính mến,

Sau nhiều suy nghĩ và cầu xin Đức Kitô trợ giúp,tôi không thể chậm trễ hơn trong việc xin Cha lưu tâm về một số yếu tố trong vấn đề người Thượng, như tôi đă được khám phá ra họ kể từ khi tôi nhận nhiệm vụ Giám Quăn Tông Ṭa nầy,với ước mong được Cha nhận lời thành lập một tu viện Ḍng Chúa Cứu Thế ở Kontum.

Những sắc dân ở Cao Nguyên lúc nầy đang đi đến một khúc quanh lịch sử của họ,mà theo như tôi nghĩ,sẽ quyết định tương lai của họ: hoặc là chết do bị dồn đẩy và bị tiêu diệt,hoặc được cứu thóat do tiến triển đi lên và được Kitô-giáo-hóa.

Những điều kiện ngọai lệ,nhất là xét về mặt địa lư và lịch sử,đă cho phép sự bảo tồn đặc biệt nầy và sự sống sót của những dân tộc nguyên thủy,bị ngưng lại ở thời kỳ đồ sắt cho tới giữa thế kỷ XX. Những t́nh huống nầy,có lẽ kéo dài cả nhiều ngàn năm,đă nên như một bức Vạn Lư Trường Thành không thể nào thẩm thấu.Nhưng trong nửa thế kỷ vừa qua và nhất là kể từ một ít năm gần đây,bức tường thành nầy đă sụp đổ.

Từ nay các sắc tộc nầy,mà người ta ước lượng con số khỏang một triệu người,dù muốn hay không,cũng bị vồ lấy một cách phủ phàng vào trong rănh hằn của các quốc gia đă văn minh.

Sự thâm nhập của các linh-mục thừa sai năm 1850,sau đó là Nhà cầm quyền Pháp phụ trách,cuối cùng hành vi chính trị sau cùng nầy của việc ghép Cao Nguyên vào Hoàng Triều Cương Thổ,với kết quả là viễn cảnh chắc chắn của cuộc di cư người Việt ồ ạt , khiến cho từ nay các bộ tộc nầy bị lôi kéo vào trong một ḍng chảy lớn sẽ dẫn họ tới sự sống hoặc sự chết, tù y theo các lực đang vào cuộc,là dịp để chính phủ và Giáo Hội ư thức bổn phận của ḿnh.

Vậy mà những dấu hiệu hiển nhiên,dù rằng chưa nhiều,đă tỏ lộ chứng minh tính chất thực sự vè tiến triển của các sắc dân nầy. Hơn nữa,trên b́nh diện thuần túy tôn giáo,ta có thể nói rằng nơi các sắc tộc ấy một hiện tượng tương tự như hiện tượng đă từ ít năm nay đang lay chuyển Lục Địa Đen Phi Châu đă bám vào: việc xin trở lại đạo một lúc cả làng,không phải là chuyện hiếm hoi.Và sự đảo lộn  thóat khỏi t́nh trạng ngọai giáo nầy ,than ôi,không chỉ có Công-giáo được hưởng lợi. Những người Tin Lành,có thế lực ảnh hưởng,được trang bị và tổ chức tốt,đă có được số đông tín đồ ở Daklak va vùng Đồng  Nai thượng.

Một kế họach,mới đây thôi,nhằm làm cho các vùng đất nầy có giá trị,sẽ tổ chức cuộc di dân người Việt.Cuộc di dân nầy là một con dao hai lưỡi.Nó thuộc lọai những hiện tượng tự nhiên và lịch sử: dân tộc năng động và phát triển hơn,kéo theo cái chết của dân tộc yếu ớt hơn. Đó là một sức mạnh mù quáng,mà chúng ta phải sợ tất cả về nó nếu chúng ta để cho nó biểu lộ ra mà không để lư trí can thiệp vào,một lư trí được soi sáng bởi đức tin và Con Tim.

Tôi cho rằng (và tất cả các linh mục thừa sai cũng đồng ư với tôi), anh em Thượng có quyền được sống;rằng có đủ chổ trên những miền đất mênh mông nầy cho tất cả mọi người cùng chung sống;hơn nữa,rằng c̣n có khả năng và ngay cả lợi ích trong việc dần dần người Thượng ḥa nhập vào quốc gia Việt-Nam. Công tŕnh dài hơi,mà sức mạnh của Kitô-giáo có thể và phải đứng sào chịu mũi,như khi xưa ở thế kỷ thứ VI dưới ảnh hưởng của men Kitô-giáo,những đ̣an bộ tộc man di tràn xuống trên thế giới Pháp cổ  và Rôma đă bị ḥa tan,bị pha trộn,để cấu thành những quốc gia mới và sản sinh ra nền văn minh Trung Cổ. Tôi không chịu được ư tưởng rằng những người “Mọi” có thể bị rút gọn,trong một ít thập niên nữa,vào t́nh trạng những khu bảo tồn….

Nhưng Nhóm Thừa Sai Kontum duy nhất của chúng tôi trải rộng trên 70.000 vây số vuông với 700.000 dân,trong đó chỉ có 26.000 Kitô-hữu,lại chỉ có khỏang 40 linh mục thừa sai.

Do vậy c̣n chổ cho rất nhiều những người thợ tông đồ. Đặc biệt,tôi nghĩ rằng Quư Cha sẽ có ở trên Cao Nguyên nầy một cánh đồng tông đồ hết sức thích hợp cho các mục đích đặc biệt của Quư Ḍng.

Ngoài việc sự hiện diện của một tu viện đạo đức nhiệt thành luôn là một nguồn ân phúc riêng biệt cho nơi đón nhận tu viện với tổ chức của các khu vực của chúng tôi,ở những nơi đó thích hợp cho việc ḥan thiện và đào sâu giáo dục Kitô-giáo cho anh em Thượng của chúng ta. Ngay ở tu viện,một trung tâm tĩnh tâm thường xuyên schắc chắn sẽ mang lại nhiều hiệu quả cho những thành phần ưu tú người Thượng.

Nhưng c̣n hơn thế nữa. Anh hưởng của Quư Cha cũng sẽ cần thiết cho các cộng-đ̣an người Việt đang hoặc sẽ hiện hữu,nhằm huấn luyện chủng tộc năng động và chinh phục nầy giữ vai tṛ người giáo dục và tông đồ cho anh em Thượng. Cuộc di dân nầy là một vũ khí hai lưỡi,như tôi đă nói… Bổn phận của chúng ta,các nhà truyền giáo, ḍng hay triều, là phải làm cho nó trở thành một khí cụ phục vụ vinh quang cao cả nhất của Chúa và phần rỗi của đồng bào Thượng. Chính t́nh yêu thương mà chúng ta đă dành trọn cho Việt-Nam không ra lệnh cho chúng ta phải cố gắng lôi kéo nó vào con đường cao thượng nầy sao?

Chính để thực hiện công tŕnh bao la và khó khăn nầy mà hôm nay tôi mời gọi Quư Cha. Tôi khẩn cầu Anh Sáng Thần Khí Chúa,để Người soi sáng Quư Cha và,nếu đó là thánh ư Chúa,th́ xin Người ban cho Quư Cha những phượng thế đáp lại lời mời của tôi,bởi v́,quả thật, nh́n từ những viễn cảnh nầy,phải chăng Kontum là một giáo phận to lớn đáng được ưu tiên đón nhận sự hiện diện của Quư Cha?

Hơn nữa Quư Cha cũng biết sự quư trọng và t́nh bạn sâu xa gắn kkết tôi với các Cha Ḍng Chúa Cứu Thế,v́ vậy tôi nói thêm rằng đó sẽ là niềm vui cho riêng cá nhân tôi được thấy ácc ru sĩ của Quư Ḍng chia sẻ những hy vọng và âu lo của chúng tôi trên những vùng núi nầy.

Hiệp nhất trong lời cầu nguyện,thưa Cha đáng kính,cùng với hết ḷng yêu mến và đạo đức chân thành trong Chúa Kitô

P. Seitz
Giám Quản Tông Ṭa Kontum
(đă kư)

T̉A GIÁM QUẢN TÔNG T̉A KONTUM
PAUL SEITZ
GIÁM-QUẢN TÔNG-T̉A

Thế Bài chuyễn ngữ

PAUL SEITZ
Vicaire Apostolique

Kontum le 29 Février 1956

Très Révérend Père,

Il y a trois ans bientôt, le 14 Mars 1953, je vous invitais à venir fonder une Maison dans le Vicariat de Kontum. Cette année, je renouvelle mon pressant appel et vous prie, Très Révérend Père, d’examiner à nouveau les possibilities d’une telle fondation.

Les motifs d’ordre général que je vous exposais alors n’ont rien perdu de leur valeur; bien au contraire les événements survenus depuis, leur ont donné plus de vigueur et d’actualité.

En particulier, le rythme de l’immigration viêtnamienne s’est sensiblement accru, rendant chaque jour plus urgente l’éducation et la formation chrétienne de ces nouveaux venus; tandis que les populations montagnardes, inquiètes de leur avenir, loin de passer par une crise de nationalisme et de xénophobie, appellent de tous leurs voeux prêtres et religieux étrangers.

Il parait certain, en outre, qu’en milieu montagnard-chrétien depuis environ un siècle, des vocations sacerdotales et religieuses pourraient être aisément recrutées. Nous-mêmes, nous penchons accueillir prochainement un groupe de ces enfants dans notre petit séminaire.

Gardant l’espoir que cette année 1956 sera favorable à la realisation de cette fondation, je vous prie d’agréer, Très Révérend Père, l’expression de mes sentiments les meilleurs et tout dévoués in Christo Jesu.

(A la main) Et en union de prière pour le prompt rétablissement de votre santé.

Signature: P. Seitz
Vic. Ap. De Kontum


Kontum, ngày 29/02/1956

 

Thưa Cha đáng kính,

 

Đă gần ba năm,ngày 14/03/1953,tôi mời Qúy Cha đền thành lập một Trụ sở ở  Tông Ṭa Kontum.Năm nay,tôi lập lại lời kêu gọi cấp bách của tôi và cầu xin Cha,thưa Cha đáng kính,hăy xem xét lại các khả năng của một việc thành lập như thế. Các lư do chung mà tôi đă tŕnh bày với Cha chẳng những vẫn giữ nguyên giá trị,mà trái lại các biến cố xăy ra kể từ đó,c̣n đem đến cho chúng thêm tính chất mạnh mẽ và tính thời sự.

 

Đặc biệt,nhịp độ di dân người Việt đă tăng lên cách rơ ràng,làm cho việc giáo dục và đào tạo Kitô-giáo cho những kẻ mới đến nầy ngày càng trở nên cấp bách hơn;trong khi đó các dân tộc người Thượng lo âu cho tương lai của họ,chẳng những không bị một cơn khủng hỏang của chủ nghĩa dân tộc và bài ngọai,mà c̣n kêu cứu hết ḷng các linh mục và tu sĩ ngọai quốc. Ng̣ai ra,có vẻ chắc chắn rằng trong môi trường người Thượng-Kitô-hữu từ khỏang một thế kỷ nay, ơn gọi linh mục và tu sĩ có thể dễ dàng tuyển mộ.Chính chúng tôi, chúng tôi nghĩ là sẽ tiếp nhận một ngày gần đây một nhóm những trẻ em nầy vào tiểu chủng viện của chúng tôi.

 

Với niềm hy vọng rằng năm 1956 nầy sẽ thuận lợi để thực hiện việc thành lập nầy,xin Cha nhận cho những tâm t́nh tốt đẹp và tận tâm nhất của tôi trong Chúa Kitô.

 

(viết tay) Và hiệp thông lời cầu để Cha mau chónh b́nh phục.

P. Seitz
Giám-Quản Tông-Ṭa Kontum.
 (đă kư)

 Thế Bài chuyễn ngữ

 

CHỨNG TỪ CỦA AMA NIÊM

[Rm 8,35-39:] " Ai có thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Đừc Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?

Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đă yêu mến chúng ta".

Đây là một cặp vợ chồng đă nếm trăi vàcảm nghiệm sâu sắc đoạn Kinh Thánh trên bằng cuộc sốngchứng tá của ḿnh tại Krongpa. "

Tôi là NAY-PLIH, c̣n gọi là ama Niêm, học hết lớp 7. Vợ chồng tôi ở Bon Ngôl, năm nay tôi 47 tuổi, vợ tôi 45 tuổi. Chúng tôi lấy nhau từ năm 1976. Cho đến bây giờ chúng tôi có 10 người con, 6 con gái, 4 con trai. Con đầu ḷng sinh năm 1978. Con út 3 tuổi rưỡi. Tôi chỉ làm nông.

Hồi đó, ở phía Krong-Pa này chưa có ai theo Đạo v́ sợ chính quyền làm khó dễ. Vợ chồng tôi theo Đạo không do ai lôi kéo hay hướng dẫn. Ban đầu chúng tôi nghe được rađiô, đài Tin Lành Philippin năm1987. Chiều nào cũng nghe. Vợ chồng tôi muốn theo Đạo, nhưng t́m không ra người chỉ bảo. Ai cũng sợ. Tôi bảo vợ tôi đi Bon Hlang, c̣n tôi đi Bon Bông, ḍ hỏi mọi nhà mà t́m Chúa. Vợ tôi ở một ngày một đêm tại Bon Hlang. Tại Bon Bông, tôi cũng ở qua đêm luôn. Tôi gặp được Ama Hlem, một người Jarai lấy vợ Bahnar có Đạo. Anh ta là cháu của cha tôi. Chúng tôi là anh em họ. Tôi nói với Ama Hlem: "Em có thấy anh tới nhà ba em khi ba em c̣n sống. Và em cũng biết anh có Đạo. Vậy Đạo là ǵ? Đạo là làm sao?. . ." Anh nói về Chúa Yêsu, về Chúa Thánh Thần. . . Tôi thấy cũng giống giống như Tin Lành. Thế rồi anh ta dẫn tôi tới với Cha Phán. Rất vui mừng.

Như vậy là ban đầu chỉ có hai vợ chồng tôi theo Đạo. Nhưng dần dần, dân làng thấy gia đ́nh tôi vốn cúng rất nhiều thần mà nay bỏ tất cả mà theo Đạo lành, sinh hoạt vui vẻ. Họ lại thấy chúng tôi cởi mở giúp đỡ mọi người, nên họ theo Đạo. Hầu như cả làng tôi, rồi tới Bon Diang. Cả Bon Ơi Nu cũng đến. Tôi không biết làm sao nữa. Tôi tưởng có ḿnh tôi theo Đạo, bây giờ ai cũng tới với tôi. Trong một năm tôi đi thăm tất cả các làng có người theo Đạo, cả làng của Ama Thuôt đây nữa.

Sau đó chính quyền bắt đầu kêu tôi tra hỏi đủ thứ về Đạo. Họ bắt tôi tới 9 lần cải tạo lao động tại xă. Nhưng Chúa ban ơn. Người ta càng làm khó dễ, ḷng tôi lại càng vui. C̣n dân làng vẫn hăng say sốt sắng. Họ cầu nguyện ca hát ở khắp nơi, trong nhà, ngoài rừng. . . Thấy cải tạo ở Xă không xong, họ bắt tôi đi cải tạo ơ Tỉnh, trại T15. Tôi đang cầy ngoài đồng, th́ du kích đến gọi tôi, nói xă muốn gặp. Tôi hỏi có chuyện ǵ thế. Du kích nói không biết. Khi tôi tới trụ sở xă thấy có 2 xe díp của Công An Tỉnh, của Huyện ở đó rồi. Tôi sợ lắm. Nhưng công an không có đó, họ đi uống rượu ở làng Bon Chuanh. Chỉ có chủ tịch xă, cũng say rồi. Họ tính bắt ban đêm. Nhưng rồi họ cũng để ban ngày mới bắt. Chủ Tịch cũng là anh em họ hàng với tôi.

Anh ta nói: "Thôi chết rồi anh ơi! Người ta đến bắt anh đó. Nếu anh chịu bỏ đạo th́ người ta tha. Nếu anh cứ nói ḿnh theo Đạo th́ tôi không thể làm ǵ được cho anh nữa."

Tôi nói : "Tôi theo Đạo thật, nhưng tôi không thấy việc tôi theo Đạo có tội ǵ. Đạo không có làm điều ǵ xấu, không làm điều ǵ trái với đường lối chính sách Nhà Nước. Vậy tôi có tội ǵ mà bắt tôi cải tạo như thế này?"

- "Anh bị bắt đi cải tạo v́ tội truyền đạo bất hợp pháp. Cả Huyện Krong-Pa này theo Đạo là do anh. Anh nghĩ sao?"

Tôi trả lời: -"Bắt th́ cứ bắt chứ tôi chẳng biết nghĩ sao cả. Tôi không thể bỏ Đạo."

Thế là họ khóa tôi bằng c̣ng số 8. Tôi tháo đồng hồ đeo tay nhét vào túi áo kẻo sợ bể. Khi tới Pleiku họ mua cho tôi một ổ ḿ rồi đưa thẳng tới trại cải tạo. 4 tháng đầu tôi phải làm việc rất cực nhọc. Đến tháng thứ 5, như thể là Chúa thương v́ tôi vốn đau yếu, nên tôi được làm trật tự trong trại, coi 600 người. Họ nói tôi phải trông coi cẩn thận, mất ai là tôi phải chịu tội. Cho nên cũng mệt. Tôi làm trật tự viên như thế 2 năm. Tôi làm cai tù: Ai say rượu tôi phải bắt; ai đánh nhau, tôi cũng phải bắt; ai vắng mặt lâu, tôi cũng phải đi t́m; coi Tivi, mà có ai đi tiêu, đi tiểu, tôi phải canh, sợ trốn trại.

Măi cho tới khi tôi được thả về, tôi thấy gia-đ́nh vẫn vững vàng, tôi cám ơn Chúa. Khi tôi ở trong tù, tôi nghĩ Chúa muốn thử thách tôi. Tôi cũng thấy được giống như Chúa Yêsu v́ khi Chúa đến trần gian, Chúa cũng gặp nhiều đau khổ. Ngài đến cho ta biết Cha, được có Cha như Ngài. Thế mà Ngài phải chịu khổ nạn.

Tôi nhớ lại lời Ngài đă nói: "Ai muốn theo Ta, hăy vác thập giá. . ." Và tôi thấy Chúa ở gần tôi. Vợ tôi khóc thương tôi nhiều, từ ở nhà cho đến khi đi thăm tôi.

Tôi nói: "Em đừng buồn khóc, v́ tôi ở tù đây là việc Chúa kêu gọi cũng là để cho tôi được vững vàng. Giống như Chúa Yêsu, Ngài cũng chỉ ra rao giảng không được 3 năm là đă bị bắt, bị đánh đập, bị giết. Cho nên ḿnh sống th́ sống mà chết th́ chết. Cứ giữ Đạo cho vững. Ta cứ đi theo Chúa Yêsu, con đường Chúa Yêsu như thế nào là ta cứ theo như thế. Đừng buồn." Sau khi gặp tại trại cải tạo, nhà tôi vững tâm hơn, không c̣n lo buồn khóc lóc ,nữa.

C̣n dân làng, tôi nghĩ họ sẽ tháo lui. Nhưng khi trở về làng lại thấy dân đă theo Đạo đông hơn nữa. Bây giờ phía Krong-Pa này có 4 giáo điểm, gồm 28 làng. Riêng làng chúng tôi là 76 nhà, 430 người. Sinh hoạt trong tuần như sau: thứ tư chúng tôi cầu nguyện chung, thứ năm cầu nguyện với những người đau yếu hay gặp khó khăn, các bà goá. . .; thứ sáu lại cầu nguyện chung; ngày thứ bảy chúng tôi đón Ḿnh Thánh về cho mọi người thờ kính; và ngày Chúa Nhật chúng tôi phụng vụ Lời Chúa và rước Ḿnh Thánh Chúa. Đối với dự ṭng, chúng tôi cũng chỉ nghe Lời Chúa, cầu nguyện theo Lời Chúa và đón nhận Thần Khí Chúa, để Ngài dạy dỗ. Trong việc phục vụ Chúa, cám ơn Chúa là tôi được vợ tôi nâng đỡ động viên luôn. Có khi thấy tôi không muốn đi Cheoreo hay đi các cộng đoàn chính vợ tôi thúc dục tôi đi: "Việc Chúa tại sao bỏ, tại sao chán?" Nghe nhà tôi nói thế, tôi cảm thấy hối hận và lên đường. Việc giao cho ai đó mà người đó không đi, nhà tôi cũng thúc tôi đi luôn.

Nhà tôi bây giờ cũng đă trở thành nhà qui tụ cộng đoàn. Tôi cố gắng tự làm căn nhà rộng lớn để có thể qui tụ được nhiều người đến nghe Lời Chúa. Tôi không xin ai giúp v́ trước đây tôi có xin bà con cùng làm mấy gian nhà trường và tôi có xin Cha Phán giúp ngói. Nhưng chính quyền tịch thu nói đó là dân muốn làm nhà thờ.

AMI' NIÊM: Trước khi chồng tôi bị bắt đi cải tạo, tôi bị đau nhiều lắm. Không c̣n biết ra sao nữa. Sống chết không biết thế nào. Cho đến khi tôi đi thăm anh ấy ở trại cải tạo. Thấy anh ấy đang vác gạch đỏ cả vai, tôi khóc gào lên. Tôi cũng cám ơn Chúa cho anh được chịu khó. Anh ấy đi cải tạo được một tháng th́ tôi lành bệnh. Tôi tin rằng Chúa chữa lành tôi. Tôi đi cầy, đi bừa, chặt cây một ḿnh tôi thôi. Tôi biết cầm cái ŕu sáng đi đốn cây, chiều chở bằng xe ḅ về nhà làm hàng rào.

Dân làng thấy th́ nói: "Đúng là có Chúa ở cùng chị. Trước đây đau yếu, chết đi sống lại như thế mà bây giờ chồng chi đi cải tạo th́ chị lại mạnh khỏe như thế!" Thật là tôi được mạnh khoẻ làm ra lúa gạo. Cho đến khi chồng tôi được về. Khi anh ấy về đă thấy nhà có hàng rào đầy đủ cao ráo cả hai mảnh vườn. C̣n bây giờ mỗi khi phải đi lấy Ḿnh Thánh Chúa hay phục vụ ngày Chúa Nhật mà thấy anh ấy than: Mệt quá! Hôm nay nghỉ không đi làm việc Chúa nữa - là tôi nói: "Việc Chúa làm sao mà nghỉ được? Anh mệt th́ cứ đứng lên, ra đến đường là anh sẽ khỏe. "

CHỨNG TỪ CỦA AMÍ QUANG

[Lc 10, 21] : Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Yêsu hớn hở vui mừng và nói: "Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, v́ Cha đă giấu kín không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng lạy Cha, v́ đó là điều đẹp ư Cha."

Người ta thường gọi tôi là amí Quang ở làng Bon Kting, Krong Pa. Trước kia tôi là một phù thủy và là bà đỡ của Jrai mặc dù tôi không biết chữ. Tôi được nhận vào dự ṭng năm 1992. Con tôi Quang đi t́m đạo trước, nó đi học xa rồi nghe Ama Hiếu nói về đạo. Nó họp cầu nguyện với Ama Hiếu 2 tuần rồi về kể với tôi rằng: "Mẹ ơi, đi họp cầu nguyện với đạo Công Giáo vui lắm, nghe lời Chúa hay lắm mẹ à!"

Nhưng tôi không muốn v́ thấy họ sinh hoạt nhiều quá, một tuần đến mấy ngày. Nhưng sau 2 tuần th́ tự nhiên tôi lại thấy thích, thấy xúc động muốn đi. Lúc này tôi lại bị bệnh táo bón. Tôi vào đạo mà vẫn chưa hiểu ǵ cho đến năm 1992 khi sinh con bé út rất khó khăn, tôi vẫn chưa biết cầu nguyện nhưng cũng không dám cúng Yang. Sau đó, tự nhiên tôi học thuộc được ngay kinh Tin Kinh, Lạy Cha và Kính Mừng mà anh nhóm trưởng dạy và thích cầu nguyện. Tôi được chọn chính thức vào dự ṭng. Rồi được nhận phép D́m năm 1995, rước Ḿnh Thánh Chúa nhưng về th́ uống rượu ngay, thật là không phải.

Gia đ́nh tôi không có biến đổi ǵ, cứ sống như thói cũ cho đến năm 1997, lúc Amí H'Hning đến cầu nguyện cho người khác nhưng tôi lại được ơn gặp gỡ Chúa Yêsu. Đêm đó tôi mơ thấy h́nh Chúa Yêsu và Chúa bảo đừng uống rượu và hút thuốc th́ sẽ có thai và sinh con trai. Nhưng tôi nói là tôi không sinh được v́ tôi đă triệt sản rồi. Nhưng Chúa bảo hăy nh́n vào bụng bà. Tôi nh́n và thấy bụng ḿnh đúng là đang mang thai. Tôi mừng rỡ và cảm tạ Chúa rối rít.

Sau đó amí H'Hning đến và cầu nguyện với nhóm của bà, chưa cầu nguyện cho tôi nhưng tôi lại được ơn; tôi bị rối mù rối tung lên; hai người mặc áo đỏ th́ bảo tôi ngửa tay lên, 2 người mặc áo trắng th́ bảo tôi úp tay lại. Họ làm tôi rối loạn, 20 ngày tôi cứ qùy không ăn uống. Có tiếng bảo tôi đọc kinh Tin Kính, 50 kinh Kính Mừng tính bằng ngón tay, nói tiếng lạ, cầu nguyện ơ Yêsu, Maria, Yuse. Mỗi khi nghe có tiếng bảo là tôi lại chạy đi cầu nguyện cho người ta. Gia đ́nh và mọi người bỏ rơi tôi, cho rằng tôi bị điên.

Tôi nghe nghe tiếng mắng tôi đồ khốn nạn đứng lên, đốt lửa. Tôi đứng lên t́m mọi người nhưng chả có ai v́ đă 20 ngày rồi nên không ai c̣n sức để canh tôi nữa. Mọi người đến cầu nguyện cho tôi đều thấy rơ những ǵ đă xảy ra cho tôi. Tôi qùy 20 ngày như thế là để đền tội lỗi của tôi. Tiếng đó bảo tôi phải xưng thú tội lỗi của ḿnh ra trước cộng đoàn, thứ nhất là hỗn xược với chồng, thứ 2 là không biết thương xót, tha thứ cho người có lỗi và thứ 3 là giết trẻ con trong bụng mẹ. Sau đó tiếng nói dạy tôi phải làm 7 điều, thứ nhất là từ nay về sau phải yêu thương giúp đỡ người nghèo, người đau yếu. Sau đó tôi hết hẳn không c̣n như bị điên nữa. Tôi không hiểu chuyện ǵ đă xảy ra cho tôi, tôi không muốn bị coi là điên. Tôi chạy đến gặp Cha Phán để xin Ngài giúp đỡ. Từ đó về sau tôi siêng năng đi cầu nguyện và giúp đỡ mọi người. Và cả gia đ́nh tôi đều biến đổi.

Nhưng ngay sau khi gia đ́nh chúng tôi trở lại và tôi được ơn lạ đó th́ Chúa thử thách ngay, chồng tôi bị bại chân phải lên nhà BS. Vinh ở để chữa trị. BS Vinh nghĩ là phải cưa chân nhưng rồi Chúa lại chữa khỏi cho chồng tôi. Nhưng tiếp đến con gái tôi 12 tuổi bị đau trong lúc tôi đi cầu nguyện xa làng, lúc về thấy cháu đau nặng,tôi đưa cháu lên Chereo đến nhà Y tá Thanh tiêm thuốc th́ bị chết luôn. Tôi rất buồn nhưng tôi lại mơ và nghe thấy tiếng nói rằng đừng buồn phiền v́ con tôi đi học. Tôi nói rằng con tôi đau không đi học được nhưng tiếng nói bảo rằng đến trường người ta sẽ chữa cho, đừng có lo. Nên sau đó gia đ́nh tôi không c̣n buồn phiền nữa và cố gắng đi cầu nguyện sinh hoạt. Làng chúng tôi hiện nay có khoảng 300 người theo Chúa và ngày Chúa Nhật th́ mọi người đến phụng vụ Lời đông đủ, các ngày khác trong tuần th́ khoảng 60 người tham gia thôi v́ chúng tôi cầu nguyện lúc 3 giờ sáng. Tôi giúp hướng dẫn các nhóm cầu nguyện, phần đọc Lời Chuá th́ nhờ người khác v́ tôi không biết chữ.

CHỨNG TỪ CỦA AMÍ YARNAR

[Rm 16, 1-2] : Tôi xin giới thiệu với anh em chị Phêbê, người chị em của chúng tôi, là nữ trợ tá hội Thánh Ken-Khơ-rê. Mong anh em tiếp đón chị trong Chúa cách "xứng đáng".v́ chính chị cũng đă bảo trợ cho nhiều người, kể cả tôi nữa.

Tôi là amí Yarnar và đây là chồng tôi ama Yarnar. Chúng tôi có 3 con gái và hiện ở tại làng Mron, Ialy cách trung tâm Plei Chuêt khoảng 33 km. Trước kia chồng tôi là tài xế cho Nhà nước, c̣n tôi là giáo viên mẫu giáo.

Xưa kia cha mẹ tôi làm việc cho Pháp nên quen biết Đức Cha Kim và Cố Đê nên tôi tin đạo từ bé nhưng chưa được thanh tẩy v́ chúng tôi ở vùng sâu vùng xa không có ai dạy. Cha tôi lên Kontum mua sách Lời Chúa về rồi tự đọc thôi và cha tôi được rửa tội năm 1981. Khi đó người trong làng đuổi cha mẹ tôi ra khỏi làng v́ họ sợ. Nhưng Cha tôi không đi, cố chịu đựng và gắng sống sao để dân làng hiểu. Các dịp lễ lớn như Noel, cha tôi mua bánh kẹo, nước ngọt và làm heo để mời cả làng cùng ăn lễ. Ai đau yếu, hoạn nạn cần giúp đỡ th́ ông luôn sẵn sàng. Từ từ, dân làng hiểu, quí mến và cậy dựa vào cha mẹ tôi. C̣n cha mẹ tôi th́ cậy dựa vào Chúa. Từ năm 1972, cha Tài đă biết và lên thăm cha mẹ tôi.

Tôi về học ở ḍng Phaolô rồi gặp ama Yarnar, chúng tôi lấy nhau năm 1990 cũng do Cha tôi cầu nguyện theo ḷng ḿnh, xin Chúa chúc phúc cho chứ không làm phép ở nhà thờ v́ chúng tôi chưa thanh tẩy

Khi tôi chưa được Thanh Tẩy th́ nhiều người đă hỏi tôi về Chúa và tôi cũng đă bắt đầu giúp họ. Khi đó cả 2 vợ chồng tôi đều nghỉ làm cho Nhà Nước, ở nhà buôn bán. Nhưng hoàn cảnh gia đ́nh thật khó khăn, buôn bán thua lỗ, nợ nần chồng chất. Tôi cầu nguyện và chờ đợi Chúa Thánh Thần mở ḷng chồng tôi. Cuối cùng chồng tôi cũng đồng ư theo đạo nên chúng tôi được thanh tẩy và cha Tài nhờ cha Công hợp thức hoá cho chúng tôi ở nhà thờ Đức An.

Từ đó không phải Chúa chỉ giải thoát phần hồn, tha thứ mọi tội lỗi chúng tôi nhưng Chúa cũng giải thoát cả phần xác. Chúng tôi làm ăn lên, trả được nợ nần và c̣n dành dụm tiền để xây nhà như  bây giờ.

Khi mới theo đạo chúng tôi không dám dạy người khác v́ chúng tôi không qua trường lớp ǵ, chưa hiểu biết ǵ nhiều về Lời Chúa. Chúng tôi chỉ cố gắng sống tốt, hoà thuận giữa vợ chồng và yêu thương, giúp đỡ mọi người. Nhưng trong làng người ta t́m đến tôi để xin theo đạo ngày một đông, đúng là Chúa Thánh Thần thúc đẩy họ nên tôi không biết làm sao, đành phải xuống Plei Chuêt hỏi Cha Tài. Tôi đưa danh sách của họ cho Ngài. Rồi mỗi ngày thứ 6 tôi đón xe đ̣ xuống PleiKu, rồi từ Plei Ku đi xe thồ xuống Plei Chuêt học, sau đó lại đi xe thồ ra bến xe, đón xe khách về lại Plei Kanh, chỗ tôi ở trước kia. Ṛng ră 10 năm trời như thế, không có ai giúp đỡ thêm tiền xe nhưng dù có tiền hay không, nắng hay mưa tôi đều cố gắng không bỏ buổi học, buổi họp nào với Cha Tài. Những anh chị em mới xin theo, họ thường muốn tôi đến tận nhà cầu nguyện cho họ, như thế họ mới vui, mới tin nên tôi cố gắng đi khắp các làng bằng xe đạp hay đi bộ. Càng ngày càng đông và xa nên tôi cầu nguyện Đức Me. Maria cho tôi 1 chiếc xe Honđa; sau đó chồng tôi mua cho tôi 1 chiếc xe cũ 67. Phụ nữ mà đi xe 67 th́ ai thấy cũng cười nhưng tôi không quan tâm, miễn là có xe để đi cầu nguyện cho bà con là được.

Khi có người bắt đầu xin theo đạo tôi thường hỏi họ tại sao muốn theo đạo? Theo đạo th́ sung sướng nhưng sống đạo th́ khó, ai theo đạo th́ phải "lui ngă Yang" (cúng Thần), để được cứu rỗi linh hồn th́ phải cố gắng học đạo, siêng năng cầu nguyện. Tôi cầu nguyện giao họ cho Chúa, để Chúa làm việc trực tiếp với họ. Họ có một tuần để suy nghĩ và quyết định dứt khoát. Sau 1 tuần nưă th́ tôi hỏi họ lại. Sau 2 tuần như thế th́ mời cộng đoàn cầu nguyện cho họ.

Từ Plei Kraí có người đến xin cầu nguyện v́ có người theo đạo, rồi Plei Mơ-Ngó , Plei Vân. Ở làng Plei Kanh Ngó, có 1 người thanh niên khoảng 17 tuổi đau nặng gần chết, lúc 9 giờ tối th́ người nhà đến xin vợ chồng tôi đi cầu nguyện. Từ làng tôi ở lúc đó là Plei Kanh Chop đến Plei Canh Ngó khoảng 4 cây số. Vợ chồng tôi đến th́ thấy anh ta cứng tay chân nên cầu nguyện xong th́ tôi rửa tội luôn v́ nghĩ anh ta sắp chết. Ông bà anh ta xin chữa lành nhưng tôi nói là việc đó giao cho Chúa c̣n tôi chỉ rửa tội để cứu phần hồn của anh ta. Sau đó th́ anh ta bớt, hôm sau tôi đưa anh ta đi khám ở BS. Sơn. Anh ta bị suyễn và Bác Sĩ nói bệnh này khó chữa nên phải chịu khó đi nhiều lần, nhưng sau 2 lần th́ anh ta không đi nữa. Bây giờ th́ đă lành và gia đ́nh bà con anh ta đến cám ơn chúng tôi. Anh xin chồng tôi làm cha đỡ đầu rửa tội luôn.

Tôi không biết hát nhưng v́ bà con ở Plei Kanh muốn hát nhạc đạo nên tôi cũng ráng tập. Tôi đang tập hát th́ cháu của chồng tôi ở làng Plei Pô đến khóc lóc nói rằng chồng nó sắp chết. Chồng nó không biết sao về đập phá nôi niêu lung tung từ chiều nay khoảng 4 giờ, anh em bà con bắt trói lại cũng không nổi. Tôi nói sao cháu không cầu nguyện? "Cháu không biết cầu nguyện nên cháu mới đi bộ đến đây để xin d́ cầu nguyện!" Tôi nghĩ là qủi ám. Họ đang học đạo mà không học cầu nguyện! Tôi nói là về nói cha mẹ cháu cầu nguyện cho nhưng nó không chịu bảo là tôi phải đi. Tôi hơi ngại v́ làng tôi cách làng nó đến 12 km mà trời lại tối nữa. Tôi rủ thêm 30-40 anh chị em trong cộng đoàn rồi chúng tôi đi bộ đến. Chúng tôi vừa đi vừa cầu nguyện rồi hát những bài tôi mới tập. Chúng tôi đến nơi th́ khoảng 3 giờ sáng và anh ta đă ngủ. Tôi hỏi anh ta ngủ từ lúc nào th́ biết rằng anh ta bắt đầu ngủ lúc 10 giờ là lúc chúng tôi bắt đầu cầu nguyện từ xa ở làng tôi.

Anh nầy là một người chưa rửa tội nhưng xin cha tài đến chúc lành, cha Tài cũng đến nhà cầu nguyện cho. Khi lấy vợ th́ giận vợ rồi uống thuốc tự tử, mấy người Kinh cứu được rồi rửa tội cho anh ta luôn. Sau đó, Cha Tài đến nhận dự ṭng cho làng Plei Mang Ngo này và 3 ngày sau th́ Cha làm phép bù cho anh ta. Anh ta đi t́m gà để ăn mừng với cha đở đầu là anh Lâm. Anh ta đến t́m gà ở làng Plei Kanh Ngó về khoảng 4 giờ chiều th́ anh ta kể rằng có 2 người dơ dáy, đen thui cứ bám theo anh ta, anh đi đâu th́ nó cứ đi theo, lội qua suối nó cũng lội theo. Anh ra rẫy ngủ để khỏi thấy nó nhưng nó cứ theo anh. Nó theo anh về đến nhà. Nó bắt ăn thịt người, ăn trẻ con. Gia đ́nh bắt trói anh lại cũng không được nên phải đi kêu chúng tôi. Khi tỉnh dậy anh ta kể rằng anh ta thấy Ơi Tài mặc áo Jrai và anh ta đi theo Ơi Tài th́ qủi nó không làm ǵ được anh nữa. Dân làng Plei Kanh thấy vậy th́ càng tin vào Chúa và cố gắng cầu nguyện hơn nữa.

Từ khi tôi bắt đầu làm việc Chúa th́ Chúa bắt đầu thử thách tôi. Tôi vừa phải lo việc gia đ́nh, lo con cái ăn học, việc trồng cà phê và việc của cộng đoàn. Tiền bạc khó khăn, tôi phải đi vay cà non với tiền lăi cao. Nhưng tôi không dám xin cha Tài giúp v́ tin rằng cứ hy sinh rồi Chúa sẽ ban cho cách khác. Lúc đó chồng tôi mắng tôi rằng: cầu nguyện đi để Chúa cho lúa gạo, cứ tin đi th́ sẽ được!

Năm 1993, ở làng Plăk-Ploa đi học cầu nguyện ở Plei Chuêt về bị Nhà Nước phạt 50000đ mỗi gia đ́nh và bắt đi lao động ở xă nữa, nên anh chị emï báo cho tôi hẹn tôi sáng mai 7giờ lên xă cùng với họ để bảo vệ họ.

Khi thấy tôi đến, ông Bí Thư xă hỏi tôi:

- "Tôi không kêu bà tại sao bà lại lên đây làm ǵ?

- "Ông không kêu tôi nhưng ông làm khó dễ cho dân đi cầu nguyện ở Plei Chuêt nên tôi đến gặp ông!"

Họ tách dân và tôi ra 2 pḥng khác nhau, tôi một ḿnh gặp ông Bí Thư xă từ 7 giờ cho đến 12 giờ trưa. Tôi không biết tôi nói ǵ chỉ cầu nguyện và giao hết cho ChúaThánh Thần nói, lúc đó Chúa giúp nên tôi không biết sợ là ǵ.

-"Tại sao bà lại cố gắng đi khắp các buôn làng để giảng dạy?"

-"Tôi đi để xây dựng Nước Trời từ trần gian cho tới Thiên Quốc. Tại ông nghĩ xấu chứ chúng tôi không dính dáng ǵ đến chính trị cả."

Họ cũng phạt tôi 50000đ nhưng tôi không đưa v́ không có tiền. Tôi lấy giấy phạt của họ đưa cho Cha Tài và Cha gởi ra Hà-Nội để kiện. Sau đó Bà Phơt, Chủ Tịch Huyện kêu 1 xe bộ đội lên trên làng đóng 1 tháng không cho dân đi làm, gây khó khăn để bắt dân bỏ đạo. Bà nói rằng tôi kiện bà ra tận Hà Nội nên họ ghét nhất là gia đ́nh tôi. Họ họp dân cả mấy ngày và bảo dân theo đạo là do tôi đến nhà dạy có phải không. Nhưng tôi đă lường trước điều đó nên ai muốn theo th́ cứ đến nhà tôi học.

Năm Giáo Phận mừng lễ 150 năm, năm 1998 th́ công an đem xe U-oat đến bao vây nhà tôi. Họ phạt 2 000 000đ chiếc xe mà tôi thuê chở đội chiêng; chúng tôi chuyển xe khác họ cũng biết nên không xe nào dám chở. Bà con chưa vào đạo giúp dấu áo quần Jrai của chúng tôi ra ngoài rừng trước. Họ kêu tôi lên xă gặp lúc 12 giờ trưa nhưng tôi biết là họ muốn ngăn không cho tôi đi Kontum nên tôi trốn đường sau và kêu đội chiêng đi bộ đường rừng ra Hoà Phú khoảng 16 km rồi đón xe lên Kontum. Sau này dân làng đi theo lên sau cũng đông. Dân họ bảo lúc đó thấy tôi đi nên họ cũng đi chứ nếu tôi không đi th́ họ cũng không dám.

Lúc về th́ họ cứ kêu lên xă làm việc nhiều lần, bảo tại sao đi không xin phép. Tôi nói rằng trước kia làm ǵ chúng tôi cũng xin phép nhưng lễ mừng 150 năm này th́ cả nước, cả thế giới đều biết và về dự, tại sao chúng tôi phải xin phép. Họ cứ kêu măi nên tôi nói rằng tại sao lại gây khó khăn, la mắng chúng tôi, khi vào đạo là chúng tôi giúp ích cho Ủy Ban xă, cho Huyện, cho Nhà nước, cho xă hội v́ chúng tôi sống tốt. Như vậy phải vui mừng v́ chúng tôi theo đạo chứ. Chúng tôi phải đi xa hay cầu nguyện tại nhà người này người kia v́ không có nhà thờ, vậy các ông cho phép chúng tôi làm nhà thờ đi. Tôi cứ đôi co măi nên từ đó họ ít làm khó dễ hơn.

C̣n gia đ́nh chúng tôi dời lại về làng Mrong này cũng là tại dân làng theo đạo đông mà phải đi bộ từ sáng sớm để đến nhà tôi ở Plei Kanh, cách khoảng 14 km, để học ṛng ră 2 năm như thế. Buổi sáng sớm họ đâu có ăn ǵ, chúng tôi cử hành ngôn lễ xong rồi học cho đến 11,12giờ họ lại nhịn đói đi bộ về. Chồng tôi thấy tội nghiệp họ qúa nên anh mới bảo dời nhà về làng này cho gần dân; anh nói nếu tôi chịu th́ anh hứa sẽ sửa đổi không uống rượu quậy phá gia đ́nh nữa và theo anh về đây cũng dễ buôn bán làm ăn hơn. Vậy là chúng tôi dời nhà về lại làng cũ của Cha mẹ tôi ở trước kia.

Chồng tôi quyết định xây nhà khá to để làm nơi sinh hoạt, dâng lễ, đón khách cho cộng đoàn và 1 pḥng để giữ trẻ v́ tôi có bằng cấp nên xin phép xă mở lớp được. Trước kia chồng tôi cứ càm ràm, ngăn cản không muốn tôi phục vụ cộng đoàn nhưng bây giờ chính Chúa Thánh Thần biến đổi để anh đề nghị, ủng hộ công việc phục vụ nên tôi rất vui mừng. Tôi nghe theo anh và làm nhà khá to v́ anh bảo cứ làm, Chúa sẽ trả cho".

Chúng tôi giữ trẻ miễn phí, các bé chỉ đóng 1 lon gạo mỗi ngày, c̣n lại th́ Đức Cha Chung giúp. Nhưng chỉ được 3 tháng, Cha Tài gọi điện thoại lên bảo tôi đi Plei Yăng, B 2 để giải quyết giúp giáo dân v́ họ lấy c̣ng số 8 c̣ng dân, đánh dân. Tôi nói tôi không thể bỏ các trẻ để đi được và tôi nhờ Ama Siar đi gặp Cha Tài và Cha Oanh. Cha Oanh giải quyết cách nào đó nên sau đó họ thả cho dân về. Nhưng từ đó Cha Tài không cho tôi giữ trẻ nữa, Ngài nói là để tôi để toàn thời gian lo việc Chúa. Nhưng cũng từ đó tôi gặp khó khăn hơn về kinh tế v́ trước kia tôi có thể lấy lương giữ trẻ để phụ thêm gia đ́nh. Bây giờ tôi không có tiền để đầu tư càphê, phải vay càphê non v́ tôi đă xây nhà hết vốn liếng rồi. Nhiều lúc cũng buồn và lo nghĩ nhưng tôi giao phó cho Chúa.

Hiện tại có 25 làng theo đạo ở huyện Chư-Pah này, riêng Ialy th́ có 19 làng, năm 2000 th́ số giáo dân ở Ialy là 1700 người. Hiện nay th́ khoảng 2000 người. Mỗi làng đều có trưởng cộng đoàn riêng của họ. Tôi cứ giao họ cho Chúa hướng dẫn. Ban đầu mỗi lúc học hỏi ở Plei Chuêt họ cũng gắng đi nhưng về sau xa qúa, lại không có tiền xe hay bằng lái xe nên cũng ít dần. Tôi cũng cố gắng tổ chức học hỏi tại nhà tôi nhưng chi phí đi lại, ăn uống phải tự túc không ai hỗ trợ nên nhiều lúc cũng khó khăn. V́ thế từ tháng 9 tôi xin ḍng Phú Xuân giúp thêm mỗi ngày họp họ cho chúng tôi 20 000đ để mua thêm thức ăn. Hiện tại chúng tôi họp mỗi tháng 2 lần vào ngày thứ 2 tại nhà tôi. Mỗi dịp lễ lớn th́ tôi xin phép Chính Quyền để Cha Thịnh lên dâng lễ v́ dân làng không có tiền đi xe để về Plei Chuêt.

"Lúa chín đầy đồng". . . xin các cha, các thầy tiếp tục giúp đỡ và cầu nguyện cho các cộng đoàn vùng sâu vùng xa chúng con.

1Cr 9,16 "Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lư do đ63 tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!"

Anh Siu Bloach là một trong những người bị bắt buộc như thế.

Các cộng đoàn cần được nuôi dưỡng thường xuyên để trở thành những người phục vụ cánh đồng của Chúa, vườn nho của Chúa. Chúng tôi cần được bồi dưỡng. Nhưng v́ người Jarai Chúa đă tạo dựng có một ngôn ngữ riêng, một tâm hồn riêng nên những người đến giúp chúng tôi cần phải biết ngôn ngữ ấy, biết tâm hồn ấy mới có thể giúp chúng tôi, nuôi dưỡng chúng tôi một cách có hiệu quả. Mong thay

Chia Sẻ của
BÁC SĨ NGUYỄN NGỌC VINH


Kính thưa quí Cha, quí Thầy cùng tất cả quí vị !

Được sống và làm việc với các Linh Mục Thừa Sai Tây Nguyên và bà con dân tộc Jrai trong 12 năm là niềm hạnh phúc mà tôi đă bằng mọi cách để chiếm lấy

RA ĐI

Tôi là Giu-se Nguyễn ngọc Vinh, tốt nghiệp bác sĩ tại trường Đại học Y khoa Huế, năm nay đă ngoài 40. Sinh ra và lớn lên trong một gia đ́nh Công giáo thuộc giáo xứ Trà Kiệu, Duy Xuyên, Quảng Nam. Một xứ đạo toàn ṭng, được biết như một giáo xứ tiên khởi của Giáo Phận Đàng Trong, v́ thế từ rất bé tôi đă được ông bà cha mẹ dạy dỗ : "là một người có đạo th́ được làm những ǵ, không được làm những ǵ". Thiên Chúa mà tôi được rao giảng là một "Thiên Chúa đầy quyền uy, nghiêm khắc, thưởng phạt công minh". Tôi thờ phụng Thiên Chúa v́ sợ nhiều hơn là v́ yêu. Ngài thuộc về quá khứ và tương lai nhiều hơn hiện tại. Thiên Chúa của tôi có cái ǵ đó "bất ổn" tôi khao khát vị Thiên Chúa của T́nh Yêu và B́nh an, Ngài sống và đồng hành với tôi, để cho tôi được sống và sống dồi dào.

Năm 1991, bạn tôi cô Nguyễn Thị Diễm Ly từ Tây Nguyên về Huế. Trước khi quyết định lên phục vụ dân tộc Jrai, Ly đến gặp tôi và kể cho tôi nghe về dân tộc Jrai, về nhóm Linh Mục Thừa Sai DCCT. Lần đầu tiên trong đời tôi được biết đến những con người đơn sơ mộc mạc "những vị Thừa Sai sống với dân, sống như dân." Tôi khâm phục vô cùng !

Cuối năm 1991, Cha Gio-an Bao-xi-ti-ta Nguyễn Văn Phán, lúc bấy giờ là Bề Trên nhóm Plơi Kly, gởi thư mời tôi giúp anh em Jrai. Đồng thời Ngài cũng gởi cho tôi 3 cuộn băng cassete ghi âm cuộc nói chuyện của 3 vùng Plơi Chuet, Plơi Kly và AyunPa về các vấn đề xă hội mà nhóm Plơi Kly và người dân trong vùng đang phải đối mặt. Đó là cái đói, cái dốt và bệnh tật. Tôi phân vân không biết phải trả lời Ngài như thế nào ! Bởi v́ tôi được trường Đại Học chọn làm bác sĩ nội trú Bệnh Viện Trung Ương Huế. Tôi tâm sự với anh tôi là linh mục Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thịnh. Anh tôi trầm ngâm, cuối cùng Ngài nói : "Tùy em !".

Mùa hè năm 1992, Cha Phán đến tận Trà Kiệu như một sứ giả xác nhận ư Chúa. Không do dự đắn đo, vất bỏ mọi sự tôi theo Ngài ra đi, đi về Núi Thánh.

Kính thưa quí Cha, quí Thầy !

Vô tri bất khả mộ ! có những việc nghe thôi chưa đủ, biết thôi chưa đủ" mà phải thấy, phải đụng chạm th́ mới "ngộ".

Theo chân Cha Phán tôi lần lượt thăm ba vùng truyền giáo. Vùng Plơi Chuet của Cha An-tôn Vương Đ́nh Tài, vùng Plơi Kly của Cha Giu-se Trần Sĩ Tín, cuối cùng là AyunPa - Tơlũi. Tại đây tôi dừng lại và dựng lều cho ḿnh.

Sự hội nhập của tôi không suông sẻ, gặp nhiều khó khăn :

·         Tháng 04-1993 đến tháng 08-1993 : tôi ở cùng Cha Phán, khám chữa bệnh cho dân. Tháng 08 năm ấy, bị công an trục xuất.

·         Tháng 09-1993 đến tháng 10-1993 : "ẩn dật" tại PleiKu dưới sự che dấu của các ân nhân là Cha Qui, Cha Thượng và các xơ Phao-lô. Ngày sống trong buồng, đêm ra ngoài hít thở khí trời"

·         Tháng 11-1993: sống cùng Cha Trần sĩ Tín. Được Sở Y Tế và Tổ Chức Chính Quyền Tỉnh cho làm việc tại trạm Y Tế xă Nhơn Hoà. Chỉ được 02 tháng !

·         Cuối tháng 05-1994: , bị điều về "quản thúc" tại bệnh viện huyện Chư Sê cho đến nay. Với lư do là bác sĩ Thiên Chúa giáo, nói được tiếng Jrai, có liên hệ mật thiết với các ông Cha bà Xơ và tổ chức nước ngoài.

TÔI ĐĂ THẤY G̀ "

I.- Chân dung các linh mục thừa sai DCCT Tây nguyên :

Không có ǵ cảm động hơn khi nh́n thấy các Cha sống trong cảnh nghèo hèn như một "người dân b́nh thường, nhưng không tầm thường."

Ḍng họ tôi có duyên với việc tu đạo. Hai người em của Bà nội tôi là linh mục ( Cha Phan văn Hoàng và Cha Lê Như Hảo). Cô tôi là Bề Trên Giám Tỉnh ḍng Phao-lô ( Xơ Sainte Jean Anh ). Anh con bác tôi là linh mục ( Cha Thịnh ). Tôi đă quen nh́n các cha trong phong thái đĩnh đạc, đạo mạo. Nhất cử nhất động đều có người đưa đón phục vụ.

Tôi thực sự sửng sốt khi thấy các Cha DCCT sống hết sức đơn sơ, nghèo nàn. Trong 3 vùng chỉ có ngôi nhà của Cha Phán, ơn trời nhờ có Chị Liên, cháu của Cha giúp nên ngăn nắp và sạch sẽ.

Nhà bác Tài là một nhà cấp bốn. Trông giống như một cái kho hơn là nhà ở. Lầu chẳng ra lầu, trệt chẳng ra trệt. Tôi đă đă nhà Bác nhiều đêm, và đêm nào cũng bị chuột tấn công.

Nhà Cha Tín c̣n tệ hại hơn. Nhà tôn vách gỗ dựng từ những năm 70. Không điện không nước, nắng th́ nóng như thiêu, mưa th́ dột. Một hôm ngửi thấy mùi hôi thối bốc ra từ pḥng Ngài, chúng tôi vào dọn pḥng, cuối cùng phát hiện 3 chú chuột đă chết, xác trương ph́nh lên, lúc nhúc gịi bọ. Ngay trên đầu giường, thế nhưng Cha Tín nhà ta bao nhiêu ngày qua vẫn ngủ ngon lành !

1. Cha An-tôn Vương Đ́nh Tài :

vị Thừa Sai cầu nguyện

Tôi không được ở gần Bác, nhưng mỗi lần vào thăm Bác tại Plơi Chuet tôi gặp sự b́nh an. Bao giờ cũng vậy, Ngài bắt tôi qú xuống và đặt tay cầu nguyện. Chỉ vào thời gian sau này, khi ngài bắt đầu quên, biểu hiện chứng bệnh thoái hoá năo, Ngài mới bỏ thói quen đó.

Bác là con người hiền hậu đơn sơ. Không ai có thể giận bác ! Chú Phán là người nóng tính nhất nhóm cũng không thể giận Bác được lâu. Khi có sự bất hoà, chính Bác là người chủ động làm hoà. Cử chỉ hay gặp là Bác vỗ vỗ vào vai và nói : "Café ngon lắm, ta pha uống đi !", hoặc "Ta ăn quán đi ! Bác đăi".

Chú Phán nhiều lần nói với tôi : "Bác là người được ơn hoà giải !". Những nố bất hoà trong cộng đoàn, Ngài nói : "Chỉ có Bác Tài mới giải được".

Nhiều lần tôi khám bệnh cho Bác. Bác bị viêm đại tràng nhiều năm, nhưng chẳng bao giờ chịu dùng thuốc. Có nhiều thuốc tốt của hội Hột Lúa Pháp giúp, tôi để dành cho Bác. Thế nhưng có ai đến xin, Bác cho cả. Tôi trách Bác, Bác không nói ǵ. Tay cầm tay Bác dẫn tôi ra vườn chỉ vào cây Hoàn Ngọc và nói: "Bác dùng lá cây thuốc này, tốt lắm !".

Bác là con người như vậy ! không giữ lại ǵ cho riêng ḿnh. Tôi nghe Amĩ Yanar kể lại : một hôm có người lên thăm Bác, thấy bác già yếu muốn giúp Bác một chiếc xe hơi. Bác trả lời : "Hăy cho tôi số tiền của anh. Tôi sẽ mua mười chiếc xe máy cho dân tôi đi làm việc Chúa".

Xin Bác tiếp tục cầu nguyện cho chúng con.

II. Cha Gio-an Bao-xi-ti-ta Nguyễn Văn Phán :

vị Thừa Sai nhiệt thành

Chú Phán là người dẫn dắt những bước đi đầu tiên của tôi đến với anh em Jrai. Ngài là con người uyên bác, thẳng thắng và thương dân vô cùng.

Dân từ nơi xa về, bất kể đêm hôm, ai cần là Ngài sẵn sàng ngay. Khi th́ xin giải tội, khi th́ có người đau ốm, khi th́ khó khăn xin mượn tiền. Ngài chu đáo lo cơm nước, chỗ ăn chỗ nghỉ. Ai đó vô ư xúc phạm đến Jrai là Chú "nổ" ngay, dù người đó bất cứ là ai. Ngay cả bà cô Giám tỉnh của tôi cũng bị Chú nói như tát nước vào mặt. Chỉ v́ luật của ḍng nữ đ̣i buộc đúng giờ đúng giấc nghiêm ngặt, nhưng làm việc với Jrai th́ không lúc nào cũng đúng giờ !

Ngài là người làm việc không biết mệt mỏi. Lĩnh vực nào ngài cũng lao đầu vào :,b>"nông nghiệp, giáo dục, văn hoá". Ngài là người có công rất lớn trong việc "dịch thuật Kinh Thánh, sưu tầm văn hoá Jrai"

Làm việc với Chú Phán không tránh khỏi tranh căi. Thông thường Chú là người phác thảo kế hoạch. Tôi, anh Ngọc, chị Liên và cả Diễm Ly nữa bàn bạc, tranh luận" thậm chí căi nhau. Cha con b́nh đẳng tŕnh bày, bảo vệ ư kiến của ḿnh. Thỉnh thoảng có ǵ trái ư Chú hét toáng lên, đập bàn đập ghế. Nhưng đừng v́ thế mà sợ, mà nản chí. Vài ngày sau Ngài sẽ xin lỗi ngay. Trong khi làm việc, ai đúng Ngài sẽ theo, và cứ như thế tự do mà làm không phải hỏi han ǵ nữa"

Bề ngoài Ngài là người nóng nảy, nhưng bên trong Ngài rất nhạy cảm, biết chăm lo cho người khác. Cha Trần sĩ Tín vẫn thường nói với tôi : "Anh ấy nhậy lắm, phản ứng nhanh lắm ! Về mọi phương diện Cha Phán là thầy tôi".

Có ai ốm đau hay gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, ngài t́m mọi cách để giúp. Chữa tại chỗ không được th́ đi Plei Ku, PleiKu không được th́ vào Sài g̣n, cùng đường th́ thôi. Tính cách của Cha Phán là vậy : mọi sự Ngài luôn đi đến cùng !

III. Cha Giu-se Trần Sĩ Tín :

Vị Thừa Sai khôn ngoan, sự khôn ngoan của Thiên Chúa "18 năm ṃ cua bắt ốc và chài lưới, không muốn nói.  16 năm buộc phải nói nhưng lại muốn nghe, muốn nh́n nhiều hơn"  Cái vô vi trước Đạo của Lăo tử - có lẽ gần với anh nhất chăng !"

Tôi hoàn toàn đồng ư với Cha Tô-ma Nguyễn Văn Thượng nhận xét như vậy về Chú của tôi : Cha Giu-se Trần Sĩ Tín. Cha Thượng sẽ yên tâm hơn về nhận định của ḿnh nếu thấy h́nh ảnh một Cha Tín năm 1993, mặc bộ đồ bà ba màu nâu sồng, tập thái cực quyền trong sương mai. Ngài là con người đậm đặc chất phương Đông, cái triết lư phương Đông đẵm sâu trong suy nghĩ, trong tính cách của Ngài. Ngài c̣n là một người Jrai. Jrai hơn cả Jrai, như anh chị em thường nói.

Nhiều người trách Ngài, bản thân tôi ban đầu cũng trách Ngài lạnh lùng. Nhưng sống lâu với Ngài tôi càng khâm phục và yêu thương Ngài.

Tương phản với Cha Phán, Chú Tín không biết lo cho ai, không muốn dạy dỗ ai và không bao giờ sai khiến, ra lệnh một ai cả. Ngài thú nhận : "Tôi là con mồ côi cha, từ nhỏ đă vào nhà ḍng" tôi không biết cách phải lo cho người khác như thế nào !". Ngài giàu t́nh cảm nhưng không biết phải thể hiện t́nh cảm ấy thế nào cho phải đạo.

Có lẽ tôi là người diễm phúc nhất được Cha Tín dạy dỗ. Ngài dạy tôi nhiều điều và theo cách của Ngài.
- Học tiếng Jrai ư ?
- Đi vào làng"
- Học hỏi phong tục tập quán ư ?
- Đi vào làng"

Rất dễ tự ái nhưng tôi đă không tự ái ! Ngài là bậc cha chú của tôi, hơn nữa "Kỳ nhân dị tính" có ǵ là lạ.

Sau giai đoạn học tiếng, Ngài bắt đầu dạy tôi cách ứng xử và cũng dạy theo cách của Ngài.

- Anh nghe người ta nói thế này thế nọ về người này người kia ư ?
- Chính mắt anh có thấy không, chính tai anh có nghe không?
- Cám ơn Cha đă giúp đỡ con !
- Đừng cám ơn tôi. Hăy cám ơn Chúa !

Cái ǵ Jrai ăn được th́ Ngài ăn được. Châu chấu, cào cào, ṇng nọc, sâu bọ, thằn lằn, rắn rết"cái ǵ nhúc nhích được là ăn được. Và món ǵ Ngài cũng khen ngon cả !
Khi được Đức Cha Phê-rô Trần Thanh Chung hỏi :
- "Cha đă làm ǵ để người Jrai trở lại với Chúa ?".
Cha Tín thưa :
- "Con chẳng làm ǵ cả !".
Nghe thế Cha già Ánh giáo phận Kontum mỉm cười và nói nhỏ vào tai Cha Tín :
- "Thánh nhân đăi kẻ khù khờ".
Đó là sự thật : "Cha Tín không nghĩ ra điều ǵ, không làm điều ǵ ngoài những điều Thiên Chúa tỏ hiện trong dân, trong cộng đoàn. Ngài luôn luôn đi sau và giẫm lên dấu chân Đức Ki-tô. "

THAY CHO LỜI KẾT :

Tạ ơn Chúa đă cho chúng con được sống, làm việc với anh em Jrai và nhóm Linh Mục Thừa Sai DCCT Tây Nguyên. Chúng con đă sống như một gia đ́nh : "đầm ấm, yêu thương, giúp đỡ" lẫn nhau.

Chúng con đă được nếm mùi vị ngọt ngào của một ngày làm việc. Sáng cầu nguyện chung với nhau; sau đó mỗi người ra đi theo sứ vụ của ḿnh; chiều tối cầu nguyện dùng bữa chung với nhau; và tranh nhau kể lại chuyện Chúa làm trong ngày. Các Cha đă d́u chúng con bước vào đại gia đ́nh của Đức Ki-tô.

Tạ ơn Chúa ! Halleluia !

 

CHỨNG TỪ CỦA WA H' BEM

[1Cr 9,16] "Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lư do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!"

Anh Siu Bloach là một trong những người bị bắt buộc như thế.

Tôi tên là Siu Bloach, c̣n gọi là Wa H'Bem. Sinh năm 1948 tại Plei Hrai'-Dơng, Nhơn Ḥa, Chưsê, Gialai.

Trước 1975, tôi là phó ty Phát Triển Sắc Tộc tỉnh Gailai. Tôi đi cải tạo 12 năm (1975-1987) và nhận Bí Tích Thanh Tẩy trong trại cải tạo năm 1978.

Từ nhỏ tôi đă theo bạn bè đi nhà thờ Công Giáo và Tin lành chơi. Tháng 3/1975 cha Deschamp làm phép chuẩn cho tôi và vợ tôi v́ø tôi hứa sẽ theo đạo ngay khi gia đ́nh vợ tôi là người Bahnar yêu cầu. Tôi vẫn đi lễ nhưng trong ḷng trống rỗng, chả hề cảm nghiệm ǵ cả.

Khi ở trong trại cải tạo, tôi cùng đường, tuyệt vọng, sự nghiệp và ước mơ tiêu tan! Tôi ao ước được Thanh Tẩy v́ nghĩ rằng nếu trở thành con cái của Chúa th́ Ngài sẽ cứu thoát tôi khỏi cảnh tù đày. Tôi hỏi 1 người bạn và cũng là anh em kết nghĩa của tôi là người đạo gốc Bahnar rằng: "Muốn được thanh tẩy tôi phải học kinh nào? Giáo lư căn bản nào?" Anh ta trả lời: "Trước hết phải thuộc các kinh Tin Kính, Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh và kinh Cáo Ḿnh" Anh ta viết cho tôi tất cả bằng tiếng Bahnar và tôi học thuộc ḷng nhưng chả hiểu, chả nghiệm ǵ. Thế rồi tôi cũng được cha Nguyễn B́nh Tĩnh thanh tẩy nhưng chưa kịp nhận phép Thêm Sức th́ cán bộ ập vào nên phải giải tán. Sau đó, tôi lại học kinh bằng tiếng Jrai. Trong trại, ngoài Kinh Thánh chúng tôi chả có sách ǵ khác nên chúng tôi phải học giáo lư bằng cách là đọc Lời Chúa phù hợp cho mỗi hoàn cảnh, trường hợp của từng người gặp để xin Chúa cứu thoát.

Chúng tôi tổ chức trong trại như thế này: quyển Kinh Thánh chúng tôi xé rời ra theo từng loại như Tin Mừng Matthêo, Marcô, Luca, Yoan, các thư, rồi phân phối cho các pḥng. Mỗi pḥng có 1 anh nhóm trưởng. Mỗi đêm tùy theo trường hợp có thể cầu nguyện chung hay riêng nhưng 1 tuần có 1 lần nhóm cầu nguyện chung để rước Ḿnh Thánh. Nhóm trưởng vừa là người điều hành nhóm vừa là người hướng dẫn cho những ai muốn học hỏi, t́m hiểu đạo.

Bây giờ nghĩ lại tôi mới nghiệm ra rằng ChúaThánh Thần đă dùng 12 năm trong tù để huấn luyện chúng tôi. Không có trường lớp, giáo án ǵ ngoài quyển Kinh Thánh. Nhờ thế mà chúng tôi không ngỡ ngàng khi phục vụ Lời cho các cộng đoàn nghèo khổ và mù chữ sau này.

Năm 1987, khi tôi được thả về th́ cả vợ con tôi đều đă bị bệnh mà chết hết. Mẹ tôi t́m cho tôi một người vợ khác ngoại đạo. Tôi không gặp bạn bè và cố gắng bỏ đạo, tôi không đi nhà thờ hay làm quen cha Tín. Tôi không hề có ư phục vụ cộng đoàn v́ cũng như nhiều người thường nghĩ: việc cộng đoàn, việc loan báo Tin Mừng là việc của mấy ông cha bà xơ, c̣n giáo dân th́ chỉ ngồi nghe và làm theo thôi.

Nhưng Chúa lại có cách nghĩ khác và Ngài đă kéo tôi lại, cuối cùng tôi và vợ tôi cũng phải học để hợp thức hoá và chịu phép Thêm Sức. Trong làng Plei Hrai Dơng chúng tôi có 1 nhóm nhỏ 10 người (năm 1988), có đêm chúng tôi lần hạt, có đêm th́ đọc Lời Chúa và cầu nguyện cho nhau do tôi chủ tŕ. Bà con khác nghe rồi đến xem và xin theo đạo. Tôi không biết sao đành phải gặp cha Tín để hỏi cho họ học những ǵ.

Cha bảo : "Cứ đọc Kinh Thánh và cầu nguyện theo Kinh Thánh. Trước mắt cứ như vậy sau này sẽ có bài theo tŕnh tự dành riêng cho những người dự ṭng" Chúng tôi làm theo vậy. V́ tôi là người biết chữ, theo đạo hơi lâu nên bà con nhờ gặp cha để hỏi việc này việc nọ nên dù không muốn gặp cha th́ cũng phải gặp, không muốn quen cha cũng phải quen. Ṛng ră như thế đă 17 năm, nghĩ lại tôi thấy thật tức cười, tôi đă thành người phục vụ cộng đoàn lúc nào mà tôi cũng không biết"Nhưng cũng nhờ đi phục vụ Chúa mà tôi được gặp gỡ, quen biết nhiều người và đi được nhiều nơi, được nhiều người qúi mến.

Tôi thấy Chúa đă làm như thế này trong cộng đoàn Jrai:

Ban đầu khi số người theo đạo c̣n ít th́ đích thân Cha Tín đi bộ hay đi xe đạp vào làng hướng dẫn Lời Chúa. Nhưng khi đă đông người theo th́ chính Akó Khul (trưởng cộng đoàn của từng làng) hướng dẫn. Cũng chả ai bầu hay đặt để họ lên, họ chỉ có việc mà không có chức. Bà con và Cha tin cậy giao việc th́ làm. Họ là người điều hành và giảng hoà trong cộng đoàn, là người liên lạc giữa cha và cộng đoàn.

Người dân tộc Jrai chúng tôi đa số ít học, nghèo khổ thiếu thốn đủ điều, nhưng tôi xác tín rằng nhờ Kinh Thánh qua Chúa Thánh Thần hướng dẫn mà chúng tôi biến đổi, có được sự thông suốt, hiểu biết, khôn ngoan và ḷng can đảm yêu thương như hiện nay. Chúng tôi chỉ nghe Lời Chúa và cầu nguyện theo Lời Chúa. Và chỉ có Chúa mới cứu vớt, đ̣an kết được dân tộc chúng tôi với nhau và với các dân tộc khác.

Khi trở lại đạo chúng tôi biết t́m lại những cái hay cái đẹp trong cội nguồn Văn Hoá của tổ tiên chúng tôi. Nếu có những tranh chấp, bất hoà th́ biết kêu gọi tha thứ, giải hoà theo Lời Chúa. Gắng dạy dỗ con cái lo học hành. Cùng nhau lo ma chay hay cưới hỏi trong cộng đoàn.

Người ta muốn dân tộc Jrai này phải bị đồng hoá hay diệt vong bằng nhiều cách nhưng chúng tôi được Hội Thánh quan tâm và thương yêu. Chúng tôi được hiện diện tại La Vang, tại Phát Diệm, Ninh B́nh, trong ngày Ḍng Chúa Cứu Thế mừng 70 năm lập ḍng tại VN ở Saigon. Chúng tôi được mời tŕnh bày trong những hội thảo toàn quốc tại Huế...Đó không phải là Chúa Cha đang hướng dẫn và giới thiệu chúng tôi với người khác sao? Khi trở lại trong cộng đoàn Hội Thánh, chúng tôi đă được sống lại, sinh lại, đă t́m lại được sự tự tin và thấy ḿnh cũng thật sự là người như bao dân tôïc khác. Chúng tôi cũng có được vị trí trong cộng đồng quốc gia Việt Nam.

Chúng tôi tự hào được gia nhập vào thân thể mầu nhiệm của Hội Thánh, là con cái của Hội Thánh. Chúng tôi không c̣n cảm thấy bị lẻ loi, cô độc. Chúng tôi tự hào vào Hội Thánh mà chúng tôi đă chọn lựa và đặt tất cả tin tưởng, phó thác của dân tộc ḿnh cho Hội Thánh. Chúng tôi không chỉ mong được cứu thoát linh hồn mà c̣n mong cứu thoát sự sống c̣n của dân tộc Jrai này.

Các cộng đoàn cần được nuôi dưỡng thường xuyên để trở thành những người phục vụ cánh đồng của Chúa, vườn nho của Chúa. Chúng tôi cần được bồi dưỡng. Nhưng v́ người Jarai Chúa đă tạo dựng có một ngôn ngữ riêng, một tâm hồn riêng nên những người đến giúp chúng tôi cần phải biết ngôn ngữ ấy, biết tâm hồn ấy mới có thể giúp chúng tôi, nuôi dưỡng chúng tôi một cách có hiệu quả. Mong thay các cha, các thầy là những người sẽ tiếp nối nhóm PleiKly, cũng sẽ tôn trọng Văn Hoá của dân tộc chúng tôi; cũng sẽ yêu thương, hoà đồng, nói được tiếng nói của chúng tôi, cùng ăn chung lá ḿ, cùng uống chung trái bầu với chúng tôi như các cha, các thầy trước đây. Chúng tôi đang cần những người đồng hành để xây dựng một Hội Thánh Jrai, chứ không phải một Hội Thánh của người Kinh hay người Tây, người Mỹ nào. Có như thế, chúng tôi mới hy vọng làm rực rỡ thêm vườn hoa muôn sắc của Hội Thánh trần thế và Hội Thánh Thiên Quốc.

CHỨNG TỪ CỦA WA H' BEM

[1Cr 9,16] "Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lư do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!"

Anh Siu Bloach là một trong những người bị bắt buộc như thế.

Tôi tên là Siu Bloach, c̣n gọi là Wa H'Bem. Sinh năm 1948 tại Plei Hrai'-Dơng, Nhơn Ḥa, Chưsê, Gialai.

Trước 1975, tôi là phó ty Phát Triển Sắc Tộc tỉnh Gailai. Tôi đi cải tạo 12 năm (1975-1987) và nhận Bí Tích Thanh Tẩy trong trại cải tạo năm 1978.

Từ nhỏ tôi đă theo bạn bè đi nhà thờ Công Giáo và Tin lành chơi. Tháng 3/1975 cha Deschamp làm phép chuẩn cho tôi và vợ tôi v́ø tôi hứa sẽ theo đạo ngay khi gia đ́nh vợ tôi là người Bahnar yêu cầu. Tôi vẫn đi lễ nhưng trong ḷng trống rỗng, chả hề cảm nghiệm ǵ cả.

Khi ở trong trại cải tạo, tôi cùng đường, tuyệt vọng, sự nghiệp và ước mơ tiêu tan! Tôi ao ước được Thanh Tẩy v́ nghĩ rằng nếu trở thành con cái của Chúa th́ Ngài sẽ cứu thoát tôi khỏi cảnh tù đày. Tôi hỏi 1 người bạn và cũng là anh em kết nghĩa của tôi là người đạo gốc Bahnar rằng: "Muốn được thanh tẩy tôi phải học kinh nào? Giáo lư căn bản nào?" Anh ta trả lời: "Trước hết phải thuộc các kinh Tin Kính, Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh và kinh Cáo Ḿnh" Anh ta viết cho tôi tất cả bằng tiếng Bahnar và tôi học thuộc ḷng nhưng chả hiểu, chả nghiệm ǵ. Thế rồi tôi cũng được cha Nguyễn B́nh Tĩnh thanh tẩy nhưng chưa kịp nhận phép Thêm Sức th́ cán bộ ập vào nên phải giải tán. Sau đó, tôi lại học kinh bằng tiếng Jrai. Trong trại, ngoài Kinh Thánh chúng tôi chả có sách ǵ khác nên chúng tôi phải học giáo lư bằng cách là đọc Lời Chúa phù hợp cho mỗi hoàn cảnh, trường hợp của từng người gặp để xin Chúa cứu thoát.

Chúng tôi tổ chức trong trại như thế này: quyển Kinh Thánh chúng tôi xé rời ra theo từng loại như Tin Mừng Matthêo, Marcô, Luca, Yoan, các thư, rồi phân phối cho các pḥng. Mỗi pḥng có 1 anh nhóm trưởng. Mỗi đêm tùy theo trường hợp có thể cầu nguyện chung hay riêng nhưng 1 tuần có 1 lần nhóm cầu nguyện chung để rước Ḿnh Thánh. Nhóm trưởng vừa là người điều hành nhóm vừa là người hướng dẫn cho những ai muốn học hỏi, t́m hiểu đạo.

Bây giờ nghĩ lại tôi mới nghiệm ra rằng ChúaThánh Thần đă dùng 12 năm trong tù để huấn luyện chúng tôi. Không có trường lớp, giáo án ǵ ngoài quyển Kinh Thánh. Nhờ thế mà chúng tôi không ngỡ ngàng khi phục vụ Lời cho các cộng đoàn nghèo khổ và mù chữ sau này.

Năm 1987, khi tôi được thả về th́ cả vợ con tôi đều đă bị bệnh mà chết hết. Mẹ tôi t́m cho tôi một người vợ khác ngoại đạo. Tôi không gặp bạn bè và cố gắng bỏ đạo, tôi không đi nhà thờ hay làm quen cha Tín. Tôi không hề có ư phục vụ cộng đoàn v́ cũng như nhiều người thường nghĩ: việc cộng đoàn, việc loan báo Tin Mừng là việc của mấy ông cha bà xơ, c̣n giáo dân th́ chỉ ngồi nghe và làm theo thôi.

Nhưng Chúa lại có cách nghĩ khác và Ngài đă kéo tôi lại, cuối cùng tôi và vợ tôi cũng phải học để hợp thức hoá và chịu phép Thêm Sức. Trong làng Plei Hrai Dơng chúng tôi có 1 nhóm nhỏ 10 người (năm 1988), có đêm chúng tôi lần hạt, có đêm th́ đọc Lời Chúa và cầu nguyện cho nhau do tôi chủ tŕ. Bà con khác nghe rồi đến xem và xin theo đạo. Tôi không biết sao đành phải gặp cha Tín để hỏi cho họ học những ǵ.

Cha bảo : "Cứ đọc Kinh Thánh và cầu nguyện theo Kinh Thánh. Trước mắt cứ như vậy sau này sẽ có bài theo tŕnh tự dành riêng cho những người dự ṭng" Chúng tôi làm theo vậy. V́ tôi là người biết chữ, theo đạo hơi lâu nên bà con nhờ gặp cha để hỏi việc này việc nọ nên dù không muốn gặp cha th́ cũng phải gặp, không muốn quen cha cũng phải quen. Ṛng ră như thế đă 17 năm, nghĩ lại tôi thấy thật tức cười, tôi đă thành người phục vụ cộng đoàn lúc nào mà tôi cũng không biết"Nhưng cũng nhờ đi phục vụ Chúa mà tôi được gặp gỡ, quen biết nhiều người và đi được nhiều nơi, được nhiều người qúi mến.

Tôi thấy Chúa đă làm như thế này trong cộng đoàn Jrai:

Ban đầu khi số người theo đạo c̣n ít th́ đích thân Cha Tín đi bộ hay đi xe đạp vào làng hướng dẫn Lời Chúa. Nhưng khi đă đông người theo th́ chính Akó Khul (trưởng cộng đoàn của từng làng) hướng dẫn. Cũng chả ai bầu hay đặt để họ lên, họ chỉ có việc mà không có chức. Bà con và Cha tin cậy giao việc th́ làm. Họ là người điều hành và giảng hoà trong cộng đoàn, là người liên lạc giữa cha và cộng đoàn.

Người dân tộc Jrai chúng tôi đa số ít học, nghèo khổ thiếu thốn đủ điều, nhưng tôi xác tín rằng nhờ Kinh Thánh qua Chúa Thánh Thần hướng dẫn mà chúng tôi biến đổi, có được sự thông suốt, hiểu biết, khôn ngoan và ḷng can đảm yêu thương như hiện nay. Chúng tôi chỉ nghe Lời Chúa và cầu nguyện theo Lời Chúa. Và chỉ có Chúa mới cứu vớt, đ̣an kết được dân tộc chúng tôi với nhau và với các dân tộc khác.

Khi trở lại đạo chúng tôi biết t́m lại những cái hay cái đẹp trong cội nguồn Văn Hoá của tổ tiên chúng tôi. Nếu có những tranh chấp, bất hoà th́ biết kêu gọi tha thứ, giải hoà theo Lời Chúa. Gắng dạy dỗ con cái lo học hành. Cùng nhau lo ma chay hay cưới hỏi trong cộng đoàn.

Người ta muốn dân tộc Jrai này phải bị đồng hoá hay diệt vong bằng nhiều cách nhưng chúng tôi được Hội Thánh quan tâm và thương yêu. Chúng tôi được hiện diện tại La Vang, tại Phát Diệm, Ninh B́nh, trong ngày Ḍng Chúa Cứu Thế mừng 70 năm lập ḍng tại VN ở Saigon. Chúng tôi được mời tŕnh bày trong những hội thảo toàn quốc tại Huế...Đó không phải là Chúa Cha đang hướng dẫn và giới thiệu chúng tôi với người khác sao? Khi trở lại trong cộng đoàn Hội Thánh, chúng tôi đă được sống lại, sinh lại, đă t́m lại được sự tự tin và thấy ḿnh cũng thật sự là người như bao dân tôïc khác. Chúng tôi cũng có được vị trí trong cộng đồng quốc gia Việt Nam.

Chúng tôi tự hào được gia nhập vào thân thể mầu nhiệm của Hội Thánh, là con cái của Hội Thánh. Chúng tôi không c̣n cảm thấy bị lẻ loi, cô độc. Chúng tôi tự hào vào Hội Thánh mà chúng tôi đă chọn lựa và đặt tất cả tin tưởng, phó thác của dân tộc ḿnh cho Hội Thánh. Chúng tôi không chỉ mong được cứu thoát linh hồn mà c̣n mong cứu thoát sự sống c̣n của dân tộc Jrai này.

Các cộng đoàn cần được nuôi dưỡng thường xuyên để trở thành những người phục vụ cánh đồng của Chúa, vườn nho của Chúa. Chúng tôi cần được bồi dưỡng. Nhưng v́ người Jarai Chúa đă tạo dựng có một ngôn ngữ riêng, một tâm hồn riêng nên những người đến giúp chúng tôi cần phải biết ngôn ngữ ấy, biết tâm hồn ấy mới có thể giúp chúng tôi, nuôi dưỡng chúng tôi một cách có hiệu quả. Mong thay các cha, các thầy là những người sẽ tiếp nối nhóm PleiKly, cũng sẽ tôn trọng Văn Hoá của dân tộc chúng tôi; cũng sẽ yêu thương, hoà đồng, nói được tiếng nói của chúng tôi, cùng ăn chung lá ḿ, cùng uống chung trái bầu với chúng tôi như các cha, các thầy trước đây. Chúng tôi đang cần những người đồng hành để xây dựng một Hội Thánh Jrai, chứ không phải một Hội Thánh của người Kinh hay người Tây, người Mỹ nào. Có như thế, chúng tôi mới hy vọng làm rực rỡ thêm vườn hoa muôn sắc của Hội Thánh trần thế và Hội Thánh Thiên Quốc.