THÁNH GIÁM MỤC THỂ
(tiếp theo kỳ trước)

                                

                                                    11
                                NHÀ GIÁO DỤC ĐỨC TIN

Trong Sắc lệnh nhiệm vụ của các Giám mục trong Giáo Hội, Công Đồng Vaticanô 11 nhấn về chức năng dạy dỗ mà Giáo hội chờ đọi nơi các ngài.

"Các Giám mục phải loan báo cho mọi người biết Tin Mừng của Đức Ki-tô, một nhiệm vụ trổi vượt trên các chức vụ chính yếu của các Ngài, bằng cách nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần mời gọi họ chấp nhận đức tuin hoặc làm cho họ vững mạnh trong đức sống động." (số 12)

Trong Lănh vực này, Đức Giám mục Cuénot quả là một người việc. Một cộng sự viên của Ngài, linh mục Miche, từ nhà nơi bị giam giữ đă viết cho Ngài ngày tháng 9 năm 1842:

"Con van xin Đức Cha, v́ lợi của công cuộc truyền giáo, Đức Cha hăy bớt thức đêm, và chăm sóc cho sức khỏe của ḿnh nột tí, sự cứu rỗi của hàng ngh́n linh hồn tùy thuộc vào đó".

Chúng ta hăy lắng nghe từ miệng vị Giám mục bí quyết dể loan báo Đức tin:

"Hăy lo sao cho các vị thừa sai trẻ đừng tưởng tượng là phải hành xử với người Nam Kỳ hoặc với ai khác một cách khô khốc, thiếu tín nhiệm, tự cao tự đại. Làm vậy gọ sẽ là nhữngcon số không.  Xử với người làm sao người ta xử với ta làm vậy.  Nếu muốn được người Nam Kỳ tín nhiệm th́ phải tỏ ra tín nhiệm họ.  Nếu muốn được họ quư mến, phải quư mến họ.  Nếu coi họ như thứ tiện dân, một giới đáng khinh bỉ, th́ phải chịu họ ghét bỏ. Ước ǵ những vị ấy cũng là những con người của Thiên Chúa.  Kiến thức quả là tốt đẹp, thậm chí cần thiết nữa, nhưng trước hết họ cần một ḷng nhân đức vững vàng để phục." (Thư gửi về Hội Thừa Sai Paris)

Bước đầu của việc loan đức tin là lớp dự ṭng (dự bị ṭng giáo). Bản phúc tŕnh năm 1843 cho thấy một tổ chức thích hợp cho một nước có rất ít linh mục thường trú. Thầy Giảng được chia thành ba loại. Tại chỗ có "trùm, câu biện" (khoảng 2.000)

"Họ là những người cha gia đ́nh có chỗ ở ổn định. Chức năng của họ là ǵn trật tự, ḥa giải khi có tranh chấp, bất dồng, chủ tọa các buổi họp mặt, rửa tội cho trẻ sơ sinh, dự các hôn phối, mời linh mục cho các bệnh nhân nguy ngập."

Loại thứ hai là các thầy giảng lưu động đă được đào tạo chút đỉnh: họ thường đi theo vị thừa sai, c̣ khả năng dạy dỗ bổn đạo chuẩn bị cho ho lănh các Bí tích.

Trên hết có khoảng 20 thầy giảng cấp cao (ngày nay người ta sẽ nói là họ có theo học về mục vụ) "đó là những con người chín chắn, quen đốp chát tranh luận với lương dân, có khả năng đào tạo người khác; chính nhờ họ mà phần lớn đức tin tiến bộ."

Nhiều thầy giảng mạng v́ sự dấn thân truyền bá Lời Chúa.

Để chuẩn bị lănh nhận Phép Rửa Tội, người dự ṭng phải theo dự 40 ngày tĩnh tâm "trong thời đó họ không được làm một việc ǵ cả, chỉ nghe giảng, và suố thời gian tĩnh tâm họ cần được nuôi ăn, cần cất hoặc mướn cḥi cho họ ở, v́ nhóm người từ 10 dến 50 nối tiếp nhau không ngừng một phần lớn trong năm."

Các người muốn được rửa tội, thoạt đầu họ học bổn và học kinh. Hai hoặc ba lần trong ngày, thầy giảng hoặc vị linh mục giải thích kinh bổn cho họ, hoặc làm cho họ mộ mến đạo.

Chưa hết đâu, Giám mục Cuénot nói tiếp:

"Chúng tôi c̣n phải giúp đưa các tân ṭng của chúng tôi ra khỏi môi trường và gia đ́nh của ḿnh. Nếu Không, th́ đặt họ trước nguy cơ rơi trở lại tà giáo.   Do đó, phải giúp họ đến sống giữa bổn đạo, nghĩa là phải cung cấp cho họ một mái nhà tranh (7-8F năm 1841).  Chúng tôi đă thấy cần mua lại những khoảng đất trống để đón tiếp những tân ṭng nhằm tránh những phiều cùng những dị đoan từ phía lương dân."

Thế đấy, vào thời kỳ báo Tin Mừng cho mỗi thế giới hoàn toàn xa lạ với Ki-tô giáo, (trên 100 người chỉ có một Ki-tô hữu), đức thận trọng đ̣i phải có những cù lao sống đạo.

Để đo lường được sự nặng nề quấy nhiễu từ phía môi trường, chúng ta hăy lắng nghe chứng từ một vị thừa sai, linh mục Galy, bị giam ở Huế (tháng 12 năm 1841):

"Những người canh ngục tống tiền tôi, lúc nào cũng tiền, nhưng tôi không có."

-"Ông là người có đạo, ông muốn bao nhiêu tiền chẳng có, v́ người có đạo yêu thương giúp đỡ và đùm bọc nhau."

Để hiểu được t́nh trạng của giáo đoàn mới chớm nở nầy, hạt cải vừa gieo, phải liên tưởng dến những giáo đoàn tiên khởi trong thế giới Roma, nơi mà nhiều ngành nghề không thích hợp nếu muốn trung thành với đức tin Ki-tô giáo: "Rất có thể là Dấu Thánh Giá, ghi danh trên trán, trên ngực và hai tay, ngoài cử chỉ phụng vụ, c̣n là một phương tiện để nhận ra nhau" (17)

Ở Nam Kỳ, mỗi năm người ta rửa tội cho từ 1.000 đến 1.500 người lớn (trước năm 1840, th́ chưa đầy 100 mỗi năm) và đó là những ợn trở lại nghiêm túc v́ lúc ấy là việc làm hết sức nguy hiểm. Thường các thầy giảng mang những vết tích bị tra tấn.

Các bản phúc tŕnh của Giám mục Cuénot về việc sử dụng tiền bạc cũng cho thấy một cơ chế chung cho các giáo đoàn Á Châu. Việc chuộc các nô lệ và các viện mồ côi. Đó là một yêu cầu của Tin Mừng. Tin Mừng của t́nh yêu Thiên Chúa trước hết được bày tỏ cho những người nghèo nhất.

Giám mục Cuénot và Giám mục Forbin-Janson thư từ cho nhau. Năm 1838, Giám mục tỉnh Nancy nầy do loạn lạc năm 1830. Đă phải rời khỏi Nancy, đi truyền giáo ở Bắc Mỹ và đă biết được một tệ đoan thời đó: Tội giết trẻ em. Ở Trung Quốc đặc biệt, sự kiện đó rất phổ biến năm 1775 đến độ linh mục Moye (người Lorraine) thuộc Hội Thừa Sai đă phải thành lập ở Setchoan "Hội Các Thiên Thần" để rửa tội cho các em bé đang hấp hối. Năm 1843, Giám mục Forbin-Janson thành lập Hội Hài Đồng chuyên chuộc lại và rửa tội cho trẻ em bị bỏ rơi. Đi xa hơn, Hội nầy mời gọi trẻ em Ki-tô giáo trở thành tông đồ của trẻ em các nước ngoại giáo. Hội rất phồn thịnh mang tên là "Tuổi thơ thừa sai."

Chúng ta hăy để cho Giám mục Cuénot nói lên trong giáo phận của Ngài ra sao, năm 1845. Hội nầy cũng có ở Nam Kỳ, thậm chi có cả những vị tử đao, trước khi ra đời ở bên Âu:

" Tôi vừa nói là tôi không muốn bỏ ra những khoản tiền lớn để chuộc trẻ em. Nhung đừng nghĩ là tôi bỏ qua công việc đó. Không đâu! Thậm chí c̣n coi như là quá quan trọng và tôi quyết tâm xúc tiến bằng mọi giá cho phép. Nhưng trong lúc chờ đọi số trẻ được chuộc chưa thể đông được, hoặc do thiếu cơ sở để tiếp nhận các cháu hoặc v́ khó khăn để gửi các cháu đàng hoàng trong các cháu hoặc v́ khó khăn để gửi các cháu đàng hoàng trong các gia đ́nh Công Giáo. Cuộc khủng hoảng đă lật ngược dự án của tôi liên quan đến viện mồ côi. Thay ć tăng thêm con số các viện mồ côi, tôi buộc phải giải tán các em gái mồ côi, được tập trung lại ở G̣ Thị.

Phí tổn để nuôi dưỡng 30 em gái mồ côi sẽ mất khoảng 100 đồng. Tuổi của các em là 14, 15, 16 tuổi. Mua các em không tốn kém bao nhiêu. Nếu trẻ chỉ mới 5 tuổi th́ mất quá lắm là 2 đồng. Nếu là 10 hoặc 12 tuổi có thể lên 3 hoặc 4 đồng, nhất là nếu đó là bé trai … Đối với vài đứa trong số trẻ mồ côi, th́ không mất đồng nào; chỉ cần lănh chúng về. Bé sơ sinh, hoặc một hay hai tuổi thường bị cha mẹ đem đi cho. Chúng tôi có một loại trẻ mồ côi ưu tiên cần được chăm sóc, đó là trẻ mồ côi Công Giáo mà cái chết của cha mẹ hoặc những lư do nào khác bị bỏ rơi hoàn toàn … "

Sự lượng giá một đứa trẻ bằng tiền không nên làm chúng ta ngạc nhiên: Chúng ta hăy nhớ rằng bên Trung Quốc, thế kỷ trước, cha mẹ c̣n dẫn con cái họ tuổi 10, 12 (mang một tấm biển ghi giá bán) ra bán ở chợ.

Một ưu tư khác: Những người nô lệ trẻ.

"Tôi ghi việc chuộc lại con cái của các tín hữu bị bắt để trừ nợ trong một cuộc chi tiêu khác. Tôi có khoảng 2.000Ki-tô hũu, Đức Cha Lefèbvre viết (Đồng bằng Nam Kỳ) ở trong t́nh trạng đáng thương đó. Mỗi năm họ chỉ có thể trả tiền lời, vốn vẫn c̣n nguyên. Những người tín hữu tội nghiệp ấy mất cả đạo, bản thân họ và cả người thân của họ nữa."

Một cộng sự viên của Giám mục Cuénot, linh mục Miche mô tả t́nh trạng của các viện mồ côi trong Giáo phận, năm 1845 như sau:

" Nhiều ngôi nhà đă được dựng lên trong mục đích đó và chứa đầy những trẻ vô tội. Các cháu t́m thấy ở đó, ngoài những trợ giúp cần thiết cho cuộc sống, ân huệ của Phép Rửa tội và một nền giáo dục vững chắc , sẽ làm cho các cháu nhận ra một ngày nào rằng Chúa Quan Pḥng đă giật các cháu ra khỏi ḷng người mẹ trái luân thường để đặt các cháu vào trong ṿng tay của người cha nuôi, dù không bỏ qua những nhu cầu thể xác, muốn tước hết, biến các cháu thành những đứa con của Chúa. Hiện nay Đức Cha đang t́m phương tiện dựng lên những bến b́nh yên thế đó ngay tại noi trẻ được tiếp nhận."

Năm 1846, Giám mục Cuénot viết thư cho Hội Đồng Tư Vấn của Thánh Bộ Đức tin để xin lỗi về những khoản chi tiêu quá lớn:

"Tôi được vinh dự gửi về Thánh Bộ sổ sách của năm 1846," tien chi" vượt xa "tiền thu." Thế mà chúng tôi chưa xoa dịu được bao nhiêu cả, những lầm than khốn đố và đáp ứng moị nhu cầu. Biết bao điều thiện chúng tôi buộc phải bỏ qua v́ sợ đè nặng trên cán cân chi tiêu…Tôi sẽ không có ḷg biết ơn nếu không nhận ra sự ưu ái của quị vị đối với Hội và nước Nam Kỳ đặc biệt. Về phía ḿnh, tôi sẽ hết sức để không trở nên bất xứng…"

Bản văn của Vaticanô II đầu chương mời gọi các Giám mục "làm cho những người đă chịu Phép Rửa vững mạnh trong đức tin sống động".  Ṛng ră trong lịch sử, nền văn hóa Ki-tô giáo luôn luôn đề ra những sáng kiến mới.  Ngày nay nó được tiếp nối bằng "sự huấn luyện thường trực",  được đề nghị cho các Ki-tô hữu. Chúng ta hăy lưu lại hai điểm trong đó Giám mục Cuénot không ngừng chú ư đến và lưu ư các linh mục.

Sách Báo:

Giám mục dành ra một phần lớn thời giờ để dịch ra sách tiếng Việt và luôn luôn có bên cạnh ḿnh một linh mục bản xứ để kiểm tra dịch. Ngài không ngừng xin Paris gửi sách cho Ngài.

"Bổn đạo chúng tôi gần như mất tất cả vật dụng tôn giáo. Cũng vậy, các linh mục đă mất đồ đoàn của ḿnh, chỉ có sách là không mất nhưng mau hư hỏng" (1843).

Cũng năm đó, Giám mục Cuénot đă chi hết 1/6 tiền trợ cấp hàng năm (4000F trên 25000). Ngài xin phép Thánh Bộ cho tái bản những sách hữu ích: Các sách Tin Mừng, Gương Chúa Giê Su, một cuốn tóm lược kinh Thánh … cũng cần đến những sách chữ nho được gạn lọc:

"C̣n sách chữ nho, cũng là một nhu cầu tái bản v́ những người trẻ đến trường đều học chữ nho trong những cuốn sách bằng chữ nho. Trẻ công giáo cần đến những cuốn sách chữ nho được gạn lọc khỏi mê tín dị đoan".

C̣n đối với các linh mục, hằng năm, Ngài gửi đến tất cả một chương tŕnh thần học và mục vụ để các vị phải gửi trả lại các câu giải đáp. Bài vở do Ngài chấm để duy tŕ giữa các linh mục với nhau sự thống nhất trong áp dụng và

kỷ luật.

Các trường học:

Các trường học khá nhiều trước năm 1838 bị cuộc bách hại giải tán. Năm 1843 , vị Giám mục âu lo mang nặng sự dốt nát của dân Ngài bây giờ bị phó nộp cho giai cấp các nhà nho:

"Tôi đă nói các thanh niên nghèo cần phải nuôi nấng trong thời gian học giáo lư và thậm chí tôi nghĩ cả thời tiểu học nữa. Trước cuộc bách hại có những người thiện chí đă thay thế thầy cô giáo đối với họ. Nhưng công việc đó đă hoàn toàn bị bỏ bê, và số cha mẹ rất lớn, hoặc chểnh mảng, hoặc v́ quá nghèo, hoặc v́ sợ bị bách hại đă để cho con cái ḿnh bị chết d́ trong ṿng dốt nát. Thuốc chữa sẽ phải là dạy dỗ họ hoặc nhờ thầy dạy họ. Nhưng công việc sẽ tốn kém nhiều … Trong mọi thời, nhu cầu về thầy dạy dều cần thiết trên mảnh đất truyền giáo nầy. Cũng đă có rồi đó, nhưng c̣n quá ít. Điều đó là do cha mẹ quá nghèo không thể đóng góp đủ để thuê một thầy giáo, dù với một đồng lương thật khiêm tốn, 70F cũng đủ trong đất nước nầy".

Năm 1848, Ngài xin trợ cấp hàng năm 1000F để thành lập một trường nhằm đào tạo "giáo viên".

"Không có nước nào mà nhu cầu về thầy giáo lại lớn như ở Nam Kỳ. T́m được cho 10 đến 15 xứ đạo một thầy giáo cho một trường Công Giáo đă là tốt, c̣n những thầy giáo được học trong các trường lương giáo với những cuốn sách đầy mê tín dị đoan và những điều tục tĩu th́ không thể dạy trẻ theo lẽ được".

Để bù vào sự thiếu sót đó, Giám mục Cuénot yêu cầu mỗi linh mục giữ bên cạnh ḿnh 3 đến 4 học sinh, nhất là trong hy vọng đào tạo thành thầy giảng và linh mục. Ít nhất một trong những trường tí hon đó năm 1845, được coi như là một thành công, đó là công tŕnh của linh mục Sohier:

"Nơi mà cách đây 4 năm, Đức cha đă gặp linh mục Sohier chôn ḿnh trong một góc với vài ba học sinh, bây giờ một nhà trường được dựng lên không trường nào sánh b́ kịp, trong các nưóc truyền giáo khác. Nơi đă đào tạo được 3 linh mục và trong số 40 hoặc 50 học sinh, hiện nay có khoảng 10 giáo sĩ".

Rồi đây chúng ta sẽ thấy trường Pinang là nơi ẩn trú b́nh an quí hoá, nơi mà Giám mục Cuénot gửi "học sinh" của ḿnh đến để thoát khỏi cơn bách hại và sau khi đă được chuẩn bị kỹ càng, họ sẽ đón nhận chức linh mục.

Đối diện với sự ưu tiên dành cho công cuộc phúc âm hoá, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy giám mục Cuénot xin miễn chay cho các thừa sai, ngay từ 1840:

"Trong những lúc ngừng tay mà cơn bắt đạo chừa lại cho chúng tôi, các thừa sai phải giảng đạo, dạy giáo lư, ngồi toà mỗi ngày từ sáng đến chiều. Nếu phải ăn chay, họ rất khó ḷng kham nổi công việc đó nhiều ngày liền mà không mắc phải những bệnh nặng, có hại cho các linh hồn và cho công cuộc truyền giáo".

Việc loan báo đức tin đă là một h́nh thức tiết chế cho tất cả những người thợ làm việc tông đồ rồi.