NHƯ ÁNH SAO BĂNG

1. Vào một buổi sáng mùa xuân năm 1983 đang làm việc th́ tôi nghe có tiếng điện thoại reo. Tôi nhấc điện thoại lên. Bên kia đầu giây là tiếng nói trầm và khàn “đầy mùi thuốc tẩu” của cha Jean Cussac, Quản Lư Nhà các Cha Thừa Sai Paris ở Roma. Ngài báo cho tôi biết có Đức Cha muốn nói chuyện với tôi. Tôi nghe có tiếng ho húng hắng:

 - Joseph, c'est toi mon fils? Je voudrais te voir.

Tôi nhận ra ngay tiếng Đức Cha, yếu và có vẻ rất mệt. Ngài muốn gặp tôi gấp. Lần nào đến Roma Đức Cha cũng điện thoại báo cho tôi biết và hỏi tôi có rảnh không đến cho ngài gặp. Lần này th́ không, Ngài nói muốn gặp tôi gấp. Từ vài năm nay tôi thấy Đức Cha không hút thuốc nữa, v́ bị bác sĩ cấm. Để cho đỡ buồn miệng Ngài bắt đầu nhai kẹo cao su. Tôi biết phổi của Đức Cha không được khỏe, nhưng không biết là Ngài bị bệnh ung thư phổi. Tôi hẹn sáng hôm sau sẽ ra thăm Ngài... .Đặt điện thoại xuống, tôi có linh cảm đây là lần cuối cùng Đức Cha gọi điện thoại cho tôi....

Ngôi biệt thự của các Cha Thừa Sai Paris nằm cách quảng trường Hungari mấy trăm thước. Từ trên sân thượng nhỏ đàng sau có thể nh́n thấy công viên Ada nằm sát đó. Công viên Ada có cây cối mọc um tùm trông rất hoang dă là một trong mấy lá phổi xanh c̣n lại của thủ đô Roma. Từ khi qua tu học ở Roma, trong mấy năm đầu, bốn anh em chúng tôi: Thắng, Lương, Thái, Tố thường ra đây để gặp Đức Cha hay nhận tiền túi Đức Cha cho hằng năm qua cha quản lư Cussac. Một đôi lần vào dịp lễ Giáng Sinh hay Tết, chúng tôi ra ăn trưa và cũng có lần “bốn chàng ngự lâm pháo thủ” trổ tài nấu bếp, bắt tội bà giúp việc sau đó phải rửa mọi thứ chúng tôi bày ra ngổn ngang khắp nơi...

Tôi bấm chuông rồi nhẩn nha đẩy chiếc xe vespa cũ qua cánh cổng để vào trong. Cha Cussac tươi cười đón tôi ở cầu thang trước cửa chính, miệng ph́ phà chiếc tẩu... Cha đă bắt đầu tập thói quen hút  “pipe” từ ngày c̣n là cha sở giáo xứ Cửa Ḷ ở Vinh, trong thập niên 1940-1950, để qua giờ trong những khi phải nghe  “lên lớp” và suy nghĩ các câu trả lời khi phải đối chất với bạn dân. V́ xa Việt Nam đă lâu nên cha cũng quên tiếng Việt, nhưng mỗi khi nói chuyện bằng tiếng Việt , Cha vẫn nói giọng Vinh. Cha đưa tôi lên pḥng gặp Đức Cha.

Nh́n gương mặt Đức Cha gầy, đôi má hóp và đôi mắt mệt mỏi, kém tinh anh hơn mọi khi và đặc biệt khi nghe tiếng ho húng hắng ngắt quăng trong buổi nói chuyện, tôi biết Đức Cha rất yếu. Giống như một người cha già tâm sự với con, Đức Cha bảo Ngài muốn nói cho tôi biết một chuyện, nhưng phải giữ kín, đừng nói với ai,  “seulement entre nous”. Đức Cha cho tôi biết trong các tháng qua ngài đă đi khám bác sĩ, chiếu X-quang phổi và biết là phổi bị ung thư nặng. Các bác sĩ, kể cả người cháu của Ngài cũng là bác sĩ, khuyên Ngài nên đi giải phẫu phổi. V́ thế tháng 7 tới Ngài sẽ vào nhà thương để giải phẫu. Trước khi giải phẫu Đức Cha muốn thu xếp một số công việc bên Roma và muốn gặp tôi... Tôi ngồi im lặng nghe Đức Cha nói chuyện như nghe một người bạn già tâm sự. Là mẫu người  “lănh đạo cương trực, nhưng rất đắc nhân tâm và thương mến người thuộc quyền, ít khi Đức Cha nói về ḿnh... thế mà giờ đây Ngài thổ lộ với tôi về bệnh t́nh của ngài, giọng điềm tĩnh nhưng h́nh như pha lẫn một chút âu lo hoang mang nào đó. Tôi hỏi Đức Cha liệu cuộc giải phẫu có hy vọng ǵ không, Ngài trả lời  “Cha không biết, nhưng các bác sĩ khuyên nên giải phẫu, v́ thế nên c̣n nước c̣n tát, con ạ”...

2. Tâm trí tôi bỗng vụt bay về qúa khứ, thời c̣n là chú bé mới gia nhập Tiểu Chủng viện Kontum năm 1958. Hồi đó, từ cổng chính đi vào, cánh bên trái Tiểu Chủng Viện cho tới Nhà Nguyện, là Ṭa Giám Mục và nhà dành riêng cho các cha về cấm pḥng, hội họp hay tĩnh dưỡng. Pḥng trệt cạnh cầu thang là văn pḥng làm việc và  “quán bán hàng” của cố Quế. Bên trên lầu một là pḥng của ngài và của cố Vượng. Trên lầu hai là pḥng làm việc, pḥng khách, pḥng ngủ và nhà nguyện của Đức Cha. Phía bên phải là Tiểu Chủng Viện... Chỉ vài ba năm sau, khi thuộc kinh và biết giúp lễ, thỉnh thoảng tôi mới được cắt phiên lên giúp lễ Đức Cha trên nhà nguyện riêng của Ngài trong căn pḥng nhỏ ở lầu hai. Một trong những h́nh ảnh tôi c̣n nhớ như in, đó là trông thấy Đức Cha cẩn thận lấy kéo cắt ngắn tim hai cây nến làm bằng sáp ong mầu vàng óng, để cho ngọn lửa cháy nhỏ, và lấy ngón tay nhẹ nắn vun mép nến vào trong cho gọn ghẽ, trước khi mặc áo dâng thánh lễ. Cử chỉ nhỏ nhặt ấy không chỉ diễn tả tính cẩn thận, gọn ghẽ, mà c̣n nói lên sự cần kiệm của một vị Giám Mục trẻ tuổi trông coi một trong những giáo phận có t́nh h́nh khó khăn nhất nước. Nếu cần, Ngài có thể bỏ ra một lúc hàng trăm ngàn mỹ kim để lo cho các dịch vụ khác nhau của giáo phận, nhưng đối với các nhu cầu của riêng Ngài, th́ Đức Cha sống rất đơn sơ, nghèo khó. Ngài mặc áo ḍng bạc mầu và đi đôi xăng đan cũ rách quai, từng được chú Ba Minh  “xệu” lại mấy lần là thường. Chính mắt tôi đă có lần trông thấy chú Ba Minh mặc quần đùi ngồi giạng hai chân dưới cầu thang, đang h́ hục khâu lại quai xăng đan cho Đức Cha....

Lớn lên tí nữa, thỉnh thoảng tôi được chọn giúp lễ đại trào cho Đức Cha, khi cầm mũ, khi cầm gậy, hay cầm b́nh hương. Một đôi lần tôi được vào ban xông hương trong các dịp kiệu Ḿnh Thánh Chúa do Đức Cha chủ sự. Ngoài các dịp mừng lễ bổn mạng, Tết, và một vài buổi huấn giáo chung cho cả chủng viện hay vài buổi gặp gỡ lịch sử như ngày ông Raoul Follereau, Tông Đồ người cùi và phu nhân ghé thăm Tiểu Chủng Viện được Đức Cha giới thiệu với chúng tôi, hầu như suốt thời gian này các kỷ niệm của tôi với Đức Cha chỉ quanh quẩn trong lănh vực phụng vụ.

Sau khi măn chương tŕnh Tiểu Chủng Viện tại Đà Lạt, cả lớp chúng tôi 9 mạng: Lương, Thái, Tố, Thanh (Mằng Lăng), Thanh Berger, Chuẩn, Chính, Vân, Thắng, được Đức Cha ra bài sai về dậy học tại Tiểu Chủng Viện Kontum. Đó là niên khóa 1969-1970. Đức Cha giao cho tôi nhiệm vụ phối hợp sinh hoạt của nhóm các thầy cùng lớp. Chúng tôi họp nhau và đưa ra vài nguyên tắc làm việc cụ thể: 1. Hoàn toàn nói tiếng Pháp khi dậy học trong lớp. 2. Cho bài hôm trước, chấm bài ngay và trả bài cho các chú vào hôm sau hay lớp kế tiếp. 3. Không đánh các chú. 4. Đối xử công bằng, không yêu thương riêng, không thiên vị. 5.Nghiêm nghị nhưng thông cảm, không cứng cỏi và khắt khe. Chỉ trong ṿng hai tháng đầu niên khóa, chúng tôi đă đạt kết qủa rất tốt, khiến cho các cha giáo sư Pháp như cha Faugère rất ngạc nhiên sung sướng. Cũng trong năm đó chúng tôi đưa vào chương tŕnh giờ thể dục thể thao hằng tuần. Là tổng giám thị, kiêm điều hợp viên các lớp thể dục thể thao toàn Tiểu Chủng Viện, tôi đặc biệt chú ư tới tinh thần kỷ luật và luyện tập chí khí cho các chủng sinh. Vào giữa năm học, trong một lần gặp gỡ chúng tôi, Đức Cha đề nghị tổ chức Lễ Thể Dục Thể Thao cuối năm. Thế là chúng tôi lên chương tŕnh cho buổi lễ và phân công để bắt đầu tập các bộ môn cần biểu diễn: đi diễn hành theo từng lớp, thể dục thể thao đồng điễn, biểu diễn một số bộ môn nhảy dài, nhảy cao, nhảy ngựa gỗ, đi so le, và sau cùng là xây kim tự tháp. Buổi lễ đă diễn ra rất là tốt đẹp. Trên khán đài ngoài Đức Cha, ban giám đốc, ban giáo sư, c̣n có ông tỉnh trưởng, ông Phó tỉnh trưởng người sắc tộc và một số quan khách. Hơn 200 chủng sinh mặc đồng phục: quần dài trắng có dán giấy sọc đỏ, áo mai ô và ba ta trắng diễn hành và biểu diễn thể dục theo ba lứa tuổi đều đặn, nhịp nhàng là quang cảnh rất đẹp khiến cho các nữ tu ngoại quốc đă khóc v́ cảm động...

Mùa hè năm đó chúng tôi được lệnh ra tuyển chủng sinh tại Đà Nẵng và nhân dịp này ghé thăm cố đô Huế: thành nội, sông Hương, Chùa Thiên Mụ, vài lăng tẩm của các vua ....Tôi được dịp sống lại kỷ niệm thời thơ ấu, kể từ lúc di cư vào nam năm 1954. Những ngày vui mau qua. Sau đó Đức Cha cho bốn anh em chúng tôi: Thắng, Lương, Thái, Tố biết là Ngài sẽ gửi chúng tôi đi du học và hẹn gặp lại chúng tôi tại Sài G̣n để xúc tiến việc xin giấy tờ. Nghe nói ban đầu Ngài tính gửi chúng tôi du học tại đại chủng viện Dijon bên Pháp, nhưng không xong v́ chính quyền Việt Nam lúc đó đang gặp khó khăn với chính quyền Pháp. Tiếp đến Ngài muốn gửi chúng tôi sang học bên Québec, nhưng cũng không xong. Giải pháp cuối cùng là Roma. Bốn anh em chúng tôi về Sài G̣n gặp Đức Cha và được Đức Cha liên lạc với văn pḥng lo giấy xuất ngoại để xúc tiến các thủ tục cần thiết.  Sau vài tuần chờ đợi, Lương, Thái, Tố về trở lại Ban Mê Thuột, c̣n tôi một ḿnh chạy lui chạy tới văn pḥng xuất ngoại của bà Lương, có chồng làm bộ trưởng dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, để hỏi thăm tin tức. Lần đầu tiên trong đời phải đụng chạm tới hệ thống bàn giấy, bộ nội vụ vv...... tôi thấy cuộc đời mới rắc rối làm sao! Đợi măi xem kiểu không xong, để khỏi mất thời giờ, Đức Cha quyết định gửi cả bốn anh em chúng  tôi lên học Văn Khoa tại đại học Đà Lạt. Thế là chúng tôi trở lại mái ấm CVK Sohier và ngày ngày đạp xe đạp tới đại học, trong khung trời mộng mơ của Đà Lạt sương mờ. Thời học tṛ bao giờ cũng đẹp, ngoài một số thầy cũ, quen thêm được thầy mới bạn mới, với các sinh hoạt rất sinh động của ban Pháp Văn.

Cuối niên học, giấy tờ mới bắt đầu tiến triển và đang trong giai đoạn chót. Những tháng cuối cùng chuẩn bị hành trang du học cũng qua mau. Ngày 11 tháng 9 năm 1971 cùng với thân nhân và bạn bè của chúng tôi, Đức Cha đến phi trường Tân Sơn Nhất tiễn chân chúng tôi lên đường. V́ lớn tuổi nhất trong nhóm nên Đức Cha lại giao cho tôi nhiệm vụ đại diện liên lạc với ngài. Đức Cha chụp chung tấm h́nh kỷ niệm với 4 đứa chúng tôi, rồi bắt tay nói mấy lời khích lệ từ biệt, cũng như dặn ḍ chúng tôi viết thư cho tin tức. Tôi thấy đôi mắt ngài cũng long lanh như vừa vui mừng tiễn bốn con chim đầu đàn bay xa, vừa lo âu không biết tương lai như thế nào. Tôi ngoái cổ lại đàng sau chào Đức Cha và mọi người thân yêu lần nữa: cha tôi, anh chị và các em. H́nh ảnh cuối cùng tôi ghi nhận đó là h́nh ảnh của Đức Cha trong chiếc áo ḍng bạc mầu phất phơ trước gió, đang giơ tay vẫy chào từ biệt chúng tôi....

3. Chúng tôi đến Roma, kinh thành muôn thuở, trong bầu khí khủng hoảng kéo dài của các đại chủng viên Âu châu thời hậu Công Đồng Chung Vaticăng II. Tuy số đại chủng sinh Việt Nam thuộc các giáo phận khác c̣n khá đông, nhưng phẩm chất huấn luyện và giáo dục không có ǵ đặc biệt, nếu không nói là giống  “cảnh chợ chiều”. Ban giám đốc không phải là các nhà đào tạo có khả năng, do đó không được các chủng sinh kính trọng. Cùng ăn ở chung trường với chúng tôi có Đức Hồng Y Agnello Rossi, Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo. Tôi nhớ có một lần cha Giám Đốc trường là người Yugolavi tuyên bố quyết định ǵ đó, nhưng bị một số các chủng sinh ồ lên phản đối ngay trước mắt Đức Hồng Y, rồi một tay cầm dao một tay cầm muỗng nĩa, họ nện mạnh th́nh thịch trên bàn ăn. Anh em chúng tôi vô cùng ngạc nhiên trước cảnh tượng chưa từng thấy này. Hiện tượng đó đă là một cú sốc quá mạnh. Ngay trưa hôm đó chúng tôi đă họp nhau thảo luận và quyết định viết thư về cho Đức Cha để tường tŕnh t́nh h́nh và bầu khí tại Roma. Trong t́nh h́nh như thế duy tŕ được những ǵ hay đẹp đă hấp thụ được đă là khá lắm rồi. Chúng tôi xin Đức Cha, nếu muốn gửi các lớp đàn em đi du học, th́ gửi đi các nơi khác, chứ không nên gửi sang Roma, v́ không đáng công.

Năm sau đó, chúng tôi vui mừng gặp lại Đức Cha đến trường thăm. Ngài khuyên chúng tôi cố gắng hấp thụ những điều hay đẹp có thể làm giầu cho hành trang vào đời, từ môi trường và bầu khí đại đồng của thủ đô Giáo Hội và chăm chỉ học hành, không được mất thời giờ vô ích. Ngài gửi chúng tôi sang đây để tu học, chứ không phải để làm cách mạng thay đổi môi trường sống. Sau hai năm triết, Thái và Lương xin đổi hướng. C̣n lại tôi và Tố. Vào năm 1974 cuộc khủng hoảng ơn gọi tại Âu châu nói chung và tại Roma nói riêng đạt cao diểm, với hơn phân nửa số đại chủng sinh bỏ trường, đến độ Bộ Truyền Giáo quyết định đóng cửa trường Triết Học, và chuyển hết chủng sinh Trường Triết sang Trường Thần Học trên đồi Gianicolo, không nhận chủng sinh nữa, mà chỉ nhận các linh mục tu học. Thế là chúng tôi phải  “di cư”. Tháng 11 năm 1974 cha tôi qua đời. Sau đó cơn lốc chiến tranh đă dẫn đến biến cố tháng 4 năm 1975, khiến Tố cũng quyết định đổi hướng cuộc đời. C̣n lại ḿnh tôi.....

Sau khi Đức Cha bị trục xuất khỏi Việt Nam, Ngài sang Roma thăm tôi và thảo luận với cha giám đốc về việc truyền chức Linh Mục cho tôi. Tôi c̣n nhớ cảnh hai cha con gặp nhau, Ngài ngậm ngùi nói với tôi: “Voilà mon fils, tu es resté tout seul, et nous sommes exilés tous les deux”. Sau đó qua thư từ trao đổi với cha Giám Đốc, Đức Cha báo cho cha Giám Đốc biết Ngài sẽ đích thân qua Roma chủ sự lễ truyền chức Linh Mục cho tôi. Cuối năm 1976 các bạn cùng lớp với tôi về nước chịu chức Linh Mục. Trong khi tôi tiếp tục ghi danh học tại Học Viện Kinh Thánh Roma. Đầu năm 1977, trong khi tôi đi cấm pḥng dọn ḿnh chịu chức Linh Mục, th́ th́nh ĺnh Bộ Truyền Giáo lại quyết định bắt đầu nhận chủng sinh từ các nước đến trường Urbano và chuyển hết các Linh Mục từ trường Urbano sang trường Triết Học ngày trước. Dù ban giám đốc đă cố gắng thuyết phục và xin chờ cho hết năm học rồi mới đổi trường, nhưng không được, mọi người phải chuyển trường trong ṿng hai tuần. Ban giám đốc cũng như các linh mục phải  “xất bất xang bang” vội vàng thu dọn đồ đạc. Xong tuần cấm pḥng, tôi trở về trường Urbano th́ thấy nhà cửa im ĺm, vắng lặng, hỏi ra mới vỡ lẽ là mọi người đă di tản hết.

Trong bầu khí bực bội nặng nề v́ bị hấp tấp bắt buộc đổi trường, thánh lễ truyền chức Linh Mục của tôi đă đem lại niềm vui cho ban giám đốc cũng như các linh mục toàn trường. Các bạn Lương, Thái, Tố cũng về lại trường cũ dự lễ truyền chức của tôi. Tôi c̣n nhớ đôi mắt long lanh ngấn lệ của Đức Cha khi trao hôn b́nh an cho tôi. Ngài nói nhỏ vào tai tôi: ”Tu es grand, mon fils”. Trong lịch sử của trường thánh Phaolô, tôi đă là linh mục duy nhất được thụ phong trong nhà nguyện của trường, v́ từ ban đầu nó đă chỉ là trường triết và từ năm 1977 trở thành trường cho các linh mục du học.

4. Bốn tháng sau khi chịu chức Linh Mục, tôi đi du học bên Thánh Địa. Những năm sau đó thỉnh thoảng tôi gặp lại Đức Cha tại Roma hay bên Paris, mỗi khi có dịp ghé giảng tĩnh tâm hay diễn thuyết cho giới trẻ. Tại trường Urbano lại có bóng dáng các chủng sinh Việt Nam, trong đó có Lê Văn Thắng và Pierre Tis. Sau khi Thắng và Tis rời Roma sang Paris, thỉnh thoảng tôi lại có dịp ghé thăm Đức Cha, đặc biệt trong các dịp Thắng, Tis chịu chức Linh Mục. Năm 1982 do sáng kiến của Lê Văn Thắng tờ Liên Lạc CVK chào đời với số đầu tiên có thư Đức Cha gửi cho các cựu chủng sinh Kontum trên toàn thế giới, trong đó Ngài khuyến khích tất cả hăy sẵn sàng cho ngày trở về Kontum.

Mùa hè năm 1983 tôi nghe tin Đức Cha được giải phẩu phổi, và sau đó đi tĩnh dưỡng mấy tháng. Nhưng t́nh trạng sức khỏe của Ngài càng lúc càng suy sụp. Ngày 24 tháng 2 năm 1984, từ Paris, Lê Văn Thắng điện thoại cho tôi biết Đức Cha đă từ trần. Ngay tối hôm đó, tôi mua vé chuyến tầu suốt Palatino - Paris. Tuy đă được chuẩn bị từ mấy tháng trước, nằm trên xe lửa tôi vẫn cảm thấy ḷng ḿnh trống rỗng, hụt hẫng, v́ vừa mất đi một kho tàng rất lớn ... một người Cha đă tận t́nh thương yêu săn sóc từng người trong chúng tôi cho đến hơi thở cuối cùng. Sau này, tôi lại thương Ngài hơn, khi nghe biết kể từ lúc quyết định gửi bốn anh em chúng tôi đi du học hồi năm 1971 Đức Cha đă phải đau khổ rất nhiều v́ bị các cha toàn giáo phận phản đối, đay nghiến....

Vừa vào tới nhà nguyện, tôi gặp anh Thoại đang qùy khóc nức nở trước linh cữu Đức Cha, khiến tôi không cầm được nước mắt. Qùy cầu nguyện trước linh cữu Đức Cha một lúc lâu, sau đó anh em chúng tôi dâng thánh lễ cầu nguyện cho Ngài, và cầu nguyện với Ngài. Chúng tôi cảm tạ Chúa đă cho giáo phận Kontum có được một mục tử như Ngài và đă cho chúng tôi có được một người cha như Ngài.......

Sau thánh lễ cầu hồn do Đức Cha Jean Marie Lustiger, TGM Paris, chủ sự, chúng tôi đă tiễn đưa Đức Cha ra nghĩa trang Paris, nơi các cha MEP có phần mộ chung. Chiếc quan tài được từ từ hạ xuống ḷng huyệt sâu. Tôi nhớ măi câu Đức Cha có một lần tâm sự với tôi:  “Con ạ, cha muốn về chết ở Kontum”. Đức Cha đă không tṛn ước mơ đó...  Qùy sát bên cạnh mộ và gục đầu vào tường, tôi cất bài Magnificat, mượn lời ca và tâm t́nh của Mẹ Maria để chúc tụng Thiên Chúa đă ban cho giáo phận Kontum và chúng tôi tất cả món qúa lớn lao và qúy báu là Đức Cha, vị mục tử và người cha, mà Chúa vừa gọi về với Người. Đức Cha đă như là MỘT NGÔI SAO BĂNG chiếu sáng và bay ngang qua bầu trời Giáo Hội và quê hương Việt Nam, đặc biệt là bầu trời giáo phận Kontum và tâm ḷng của từng người trong chúng tôi

Roma 19-2-2004

LM Giuse Hoàng Minh Thắng CVK 58


  
Lương, Hải Thanh, Rev Faugère, Rev Thắng, Thanh, Thái, Tố,                   Anh Long 61, Rev Tâm thăm CVK-Pháp.
Chính, Hải Vân
.

  
Ông Bà Cố của cha Faugère.                                                          Rev Tâm và Thầy Émile