KONTUM MÙA HÈ ĐỎ LỬA

    

 

Lời nhập: Đọc lại bài viết về Mùa Hè 1972 do Nguyễn thế Bài viết trong số Liên Lạc trước, làm tôi nhớ lại những ngày tháng rất thân thương cũng như rất đậm đà đau thương của những tháng ngày của mùa Hè đó.  Tôi đă viết về biến cố nầy trong tờ Nhịp Cầu, một tờ báo nối kết các chủng sinh Kontum tu học ở Đà Nẵng, Huế và Đà Lạt.  Tờ Nhịp Cầu ra mắt Mùa Thu 1972 do anh em nhóm Đà Nẵng khởi xướng.  Phương tiện eo hẹp nên chỉ đánh máy và gửi cho anh em mỗi nơi một tờ và chuyền tay nhau đọc.  Nhưng nó đă giúp nối kết anh em tu học nhiều nơi khác nhau và kết quả là cuộc gặp mặt các Đại Chủng Sinh tại Kontum mùa hè năm 1974 (………..)

 

Nay th́ đă hơn 30 năm.  Bây giờ ghi lại những kỷ niệm đo với chỉ tâm t́nh nhớ tới những người bạn đă chung sức với nhau một năm trường, dạy học tại Tiểu Chủng Viện, tới những học tṛ rất ngoan, rất dễ thương, và cuối cùng tới vị Giám Mục can trường và thân yêu của chúng ta, Đức Cha Paul Seitz.

(………)

 

1. GIẢI TÁN – DI TẢN

 

NgÀY 19 –3-1972, lễ thánh Giuse, được chọn cho buổi họp mặt các phụ huynh chủng sinh.  T́nh h́nh đă bắt đầu biến động. Có đề nghị băi bỏ cuộc họp mặt đó.  Nhưng cuối cùng chúng tôi quyết định vẫn tổ chức. Một phụ huynh ở Pleiku không đến dự v́ lo ngại. Buổi khai mạc được tổ chức tại Préau. Tôi được giao trách nhiệm giới thiệu chương tŕnh.  Khi tôi vừa đọc tới đoạn “12 giờ, cơm trưa” th́ những tiếng nổ vang rền của những trái bom do VC bắn vào. Làm mọi người hoảng hốt và lo sợ. Chúng tôi nằm rạp xuống đất.  Ngày họp mặt bị băi bỏ và chiều hôm đó, Đức Cha họp tất cả các thầy lại và tuyên bố là giải tán chủng viện ngay lập tức hầu có giờ cho các chú di tản về với gia đ́nh. Số phận các thầy đi từng đại chủng viện cũng được Đức Cha thông báo.

 

(…… Được Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn-Ngọc Tâm cho phép biên-tập lại, để chỉ giữ lại những nét làm nổi bật tính cách của Cố Giám Mục, và v́ khuôn khổ của một số thông-tin liên lạc, TLL cắt bỏ 2 trang nói về cuộc di-tản với rất nhiều chi-tiết rất hấp dẫn và đầy kỷ niệm. Mong t́m đọc lại trong LLCVK)..

 

2. TRỞ LẠI KONTUM – THÀNH PHỐ BUỒN.

 

ĐỨC CHA SEITZ về Sài G̣n. Ngài vẫn khỏe mạnh nhưng gầy sút hẳn đi.  Những ngày tháng căng thẳng sống giữa làn đạn của những trận giao tranh, đă làm Ngài mất mấy kí lô và từ đó ngài không bao giờ lấy lại được nữa.  Căn nhà MEP, 11 đường Nguyễn Du trở thành nơi thường xuyên lui tới của tôi để gặp các cha giáo như Ginhoux, Desroches. Một hôm tôi đang ở nhà bà chị, th́ Thành C̣ tới cho biết là Đức Cha muốn Thành và tôi theo Ngài về Kontum. Tuy t́nh h́nh chưa hoàn toàn lắng đọng, nhưng trở lại Kontum vẫn là một tiếng gọi mănh liệt.  Thầy Khắc lo lắng mọi chuyện từ vé máy bay đến việc đưa ra phi trường. Chúng tôi đáp máy bay Air Việt Nam từ phi trường Tân Sơn Nhất và sau gần hai tiếng đồng hồ, máy bay đáp xuống phi trường Cù Hanh. Đức Cha xuống máy bay, nh́n đồi núi chung quanh, hít vô buồng phổi không khí trong lành của miền núi cao nguyên.

 

Chúng tôi về nhà thờ Thăng Thiên của cha Thức và chờ phương tiện về lại Kontum.  Con đường về Kontum vẫn bị ngăn chận do Việt cộng chiếm giữ ngọn đồi Chu Pao.  Phưong tiện duy nhất là trực thăng quân đội.  Từ trên trực thăng nh́n xuống, chúng tôi thấy các ngọn đồi Chư Pao vẫn khói bốc cao v́ máy bay oanh tạc.  Nhưng Việt cộng vẫn chiếm giữ và quân đội Miền Nam vẫn chưa lấy lại được.

 

Chủng viện và Ṭa Giám Mục đă bị cướp phá, các cửa bị đập tung ra nên chúng tôi trú ngụ ở nhà các cha MEP, gần trường Cuenot. Căn nhà hai tầng là nơi các cha Thừa Sai Pháp cứ mỗi tháng về tụ họp để gặp gỡ nhau và nghĩ ngơi.  Chúng tôi gặp lại cha Faugère đang c̣n ở đó.

 

Ngày hôm sau Đức Cha chở Thành và tôi trên chiếc xe Land Rover về lại chủng viện.  Cảnh vật tiêu điều và c̣n mang vết tích tàn phá của chiến cuộc.  Château d’eau đă bị giật sập, v́ có tin VC đặt súng pḥng không trên tháp, mặc dầu Đức Cha nói cho chúng tôi là Ngài có thuyết phục quân đội đừng gài bom giật sập v́ không có chứng cớ chắc chắn là có súng pḥng không ở trên đó.  Sức ép của vụ nổ làm thiệt hại phía hông trái chủng viện khá nặng nề: Tường vách sụp đổ, mái ngói hư hại.

 

Chúng tôi qua từng pḥng ốc. Pḥng các cha giáo đều bị lục lọi. Hành lư các chủng sinh để lại khi di tản đều bị phá tung. Quần áo, sách vở văng bừa bải trên sàn pḥng ngủ ở tầng 3.  Tôi t́m được valise của Luyện, cố gắng t́m được một chút ǵ kỷ niệm để gửi lại cho gia đ́nh.  Có một quyển tập trong đó Luyện đă viết lại một ít bài thơ Luyện đă làm.  Một sự lạ lùng là nhiều vần thơ đề cập đến chết chóc, đến cuộc chiến, như một linh tính được báo trước.  Tôi thu thập những bài thư đó và sau nầy về lại Sài G̣n đưa lại cho gia đ́nh Luyện.  H́nh ảnh một Luyện gầy, đen đen, mặc chiếc quần đùi, đầu đội chiếc mũ lính cứu hỏa trong một trưa nắng hạ của những ngày cuối cùng, gặp tôi cười trên pḥng ngủ lớn, vẫn trở lại trong đầu óc tôi.

 

Ṭa Giám Mục và các pḥng cũng bị lục lọi cướp bóc.  Đức Cha lắc đầu buồn rầu cho hành động thiếu suy nghĩ của những người đă lợi dụng t́nh thế để kiếm chác.   Chiến tranh không những đem đến những tai hại về vật chất và sự sống mà c̣n tổn hại đến lương tâm của con người.

 

Đức Cha dẫn chúng tôi để thăm các khu phố Kontum.  Vùng phi trường được gọi là khu 4?, bị thiệt hại nặng nhất.  Nhiều mái nhà bị bom đạn phá đổ nát.  Cảnh vật buồn thảm lạ lùng!  Phần lớn người Kinh đă tản cư. Một thành phố hơn hai chục ngàn dân chỉ c̣n rải rác một ít người. Những nhà không bị hư hại th́ đóng cửa. Các vườn trẻ Đức Cha mới xây dựng đều bị tàn phá. Dấu tích của những trận chiến khốc liệt vẫn c̣n phảng phất khắp nơi. Một vài xác chết của Việt Cộng nằm śnh thối không ai chôn.  Cái chết hiện diện mănh liệt hơn là sự sống. Đêm đến tiếng bom B.52 vẫn nổ vang dội đến tận thành phố.

 

Tôi tự hỏi tương lai Kontum sẽ đi về đâu?  Chủng viện sẽ như thế nào?  Và Đức Cha đang nghĩ ǵ, khi những xây dựng của Ngài sau bao nhiêu năm bị đổ nát một phần lớn, khi số đông giáo dân đă ra đi, khi sự an ninh của thành phố chưa được bảo đảm.

 

Thế nhưng, dù trên khuôn mặt vẫn c̣n những vết lo lắng và căng thẳng, Ngài vẫn can trường tin tưởng nơi Chúa, không có một tiếng thở dài tiếc nuối.  Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Ngài bắt đầu công tác trùng tu những nơi đổ nát, bắt đầu là chủng viện. Tôi hỏi và Ngài trả lời: Trước hết không thể khoanh tay ngồi nh́n những đổ nát, tương lai thế nào tùy nơi Chúa, sứ mệnh của Ngài là bắt đầu xây dựng lại. Thứ đến, bắt đầu công việc trùng tu sẽ giúp một số anh em thượng có việc làm.  Nhờ thế  có đồng tiền để mua cơm gạo hơn là để họ sắp hàng tới lănh  thực phẩm và không làm việc ǵ cả.  Tôi khâm phục Đức Tin mănh liệt và sự can đảm của ngài.

 

3. Niên khóa 1972-1973, các chú không trở lại Kontum.  T́nh h́nh c̣n quá bấp bênh.  Sau một thời gian, tôi theo Đức Cha đi Dalat để chuẩn bị cho các chú về học tại ḍng Chúa Cứu Thế.  Chuyến bay đầu tiên bằng trực thăng khi tới Đàlạt không thể đáp xuống v́ trời mưa và sương mù dày đặc.  Ngày hôm sau, tôi trở lại Sohier sau một năm xa cách.  Đàlat vẫn lành lạnh, vẫn mưa phùn có khi kéo dài cả tuần. Nhưng Đàlat vẫn thân thương như những ngày tháng trước.

 

Các bạn của tôi được Đức Cha kêu gọi lên Đàlat, tới nhà Ḍng Chúa Cứu Thế để chuẩn bị đón các chú và tuyển mộ lớp mới.  Cha Oanh hướng dẫn các cuộc thi tuyển nầy. Cuộc thi tuyển đầu tiên được tổ chức ở Tiểu Chủng Viện Sài G̣n.  Rồi chúng tôi bay lên Pleiku tổ chức cuộc thi tuyển thứ hai tại trường trung học Minh Đức. Năm nay các chú mới sẽ không có dịp bắt đầu đời sống chủng viện ở Kontum. Thế là từ đây ngôi trường thân yêu sẽ vắng tiếng cười, tiếng chào hỏi huyên náo sau 3 tháng hè. Cỏ may sân chơi sẽ không c̣n bị dập nát bởi những bàn chân trần chạy đuổi  theo bóng đá. Những lớp học, những pḥng ngủ sẽ trống vắng. Sẽ không c̣n tiếng chuông đánh thức buổi sáng, nhắc nhở giờ kinh chiều.

 

Chúng tôi bỏ Chủng Viện Kontum với nhiều thương tiếc.  T́nh h́nh không cho phép mở lại chủng viện ở Kontum.  Nhưng theo tinh thần của Đức Cha, tương lai của địa phận vẫn phải giữ vững.  Chủng viện vẫn phải được mở lại.  Các chú vẫn được tuyển chọn.  Sứ mệnh truyền giáo vẫn tiếp tục bất cứ hoàn cảnh nào.  Từ đây Dalat sẽ có hai CVK (Chủng Viện Kontum): CVKAnh và CVKEm.

(……………..)

 

Để kết luận, tôi ghi lại đây một vài đoạn trong 2 bức thư của Đức Cha gửi cho tôi, khi tôi quyết định vào lại chủng viện ở Mỹ năm 1978. Tôi vẫn giữ những bức thư nầy như một kỷ niệm đầy ấp kính mến tới vị Giám Mục của chúng ta

 

Paris, ngày 11 tháng 2 1978,

 

Gửi Tâm, con rất thân ái,

 

Không, Cha đă không quên con, Kỷ niệm về con, khuôn mặt của Con luôn hiện diện trong Cha với biết bao kỷ niệm khác về Việt-Nam, về chủng viện mà con học, bằng ấy thứ làm sao Cha có thể quên được!

 

Như vậy con đă quyết định tiếp tục con đường phục vụ Chúa, trong chức linh mục ở xứ sở lưư đày?…  Sau hơn 40 năm linh mục và gíam  mục, Cha không ngần ngại một giây nào để khẳng định với con rằng sự lựa chọn của con là sự lựa chọn tốt. Đó là sự chọn lựa con đường vương giả của Hy Sinh, của Phục Vụ Chúa và ḷai người. Chúa là Đấng tring thành. Con cũng hăy trung thành mọi ngày trong đời sống và con sẽ chẳng bao giờ phải hối tiếc về quyết định của con.

 

Nếu Cha c̣n được lựa chọn, con thấy không, Cha cũng vẫn chọn lựa như thế! Quả thật, con và Cha, chúng ta nghe Chúa Giêsu nói với chúng ta: “không phải các con đă chọn thấy, nhưng chính Thầy đă chọn các con”. Thật đúng như thế và con sẽ hiểu điều ấy rơ hơn trong cuộc đời. Chúng ta chỉ c̣n nói VÂNG trước sự lựa chọn nhưng không của Chúa, như Đức Trinh Nữ: “Nầy tôi là tôi tá Chúa”. Thưa VÂNG trong mọi giây phút cuộc đời chúng ta!.

 

Khi nào và làm sao Chúa cho phép con thấy lại quê hương con? Hẳn nhiên đó là mộ bí  ẩn, nhưng phải luôn giữ hy vọng: “Nec immemor, nec desperans” (không thể quên, nhưng không hề tuyệt vọng). Và trong niềm vui phó thác cho Chúa, đem Chúa T́nh yêu đến nới anh em đang bị lưu đày của con, trước khi mang t́nh yêu ấy mai nầy đến cho những anh em bị bách hại ở Việt-Nam. Con hăy yên tâm về ḷng yêu mến của Cha đối với con và Cha hết ḷng chúc lành cho con. 

 

Paul Seitz, GM

 

Paris 11 Février 1978

 

Bien cher fils, Tam,

 

Non, je ne t’ai pas oublié, ton souvenir, ton visage, me demeurent presents avec tant d’autres souvenirs du V.N, de Kontum, du séminaire où tu fus élève tant cela que je ne pourrais oublier!

 

Tu as donc décidé de poursuivre ta voie au service du Seigneur, dans le sacerdoce au pays d’exil? …  Après plus de 40 ans de prêtrise et d’épiscopat,  je n’hésite pas un instant à te confirmer que ton échoix est le bon. C’est celui de la voie royale du Sacrifice, du Service de Dieu and des hommes. Dieu est fidèle, sois-le aussi tous les jours de la vie, et jamais tu n’auras à regretter ta décision.

 

Si j’avais encore à choisir, vois-tu, c’est encore cela que je choisirais! En réalité, toi et moi, nous entendons Jésus nous dire: “Non vos elegistis, sed Ego, elegi vos.” C’est  bien vrai, et tu le comprends de mieux au cours de la vie. Nous n’avons qu’à dire ou à ce choix gratuit du Seigneur, comme la Vierge: “Ecce ancilla Domini.” Dire oui, à  tout instant de notre vie!

 

Quand et comment Dieu permettra-t-il que tu retrouves ton pays? C’est un secret assurement, mais il faut garder l’espoir:

“Nec immemor,  nec desperans!” (Không thể quên, nhưng không hề thất vọng!) Et dans la joie de l’abandon à Dieu, porter le Dieu d’Amour à tes frères exilés, avant que de le porter demain à tes frères persecutés du V.N. ..

 

Je t’assure de mon affection et te bénis de tout Coeur.                                                                                            

 

Paul Seitz, Ev.

 

Và một vài đoạn trong một bức thư đề ngày 19 Octobre 1978, trong đó Ngài nhắc tôi một vài người chúng ta quen biết.

 

Con rất thân ái,

 

Thư con gửi ngày 1 tháng 10 đă làm chi ra rất vui ḷng, trước hết v́ những tin-tức mà thư đem đến cho Cha về con và về việc con vào Đại chủng-viện, nhưng cả về những kư ức của con.

 

Cả hai chúng ta đều là những người bị lưu-đày mà trái tim ở Việt-Nam, nhưng chúng ta không được đứng trên phương diện t́nh cảm. Chúng ta phải  chung sức và chung ḷng làm việc một ácch có hiệu quả với tất cả những người đang ở Việt-Nam. Phải sống ngày hôm nay trong niềm hy vọng rằng con sẽ t́m thấy lại địa phận Kontum của con, để làm việc ở đó trong tư cách một thừa sai thực thụ. Tại sao lại không chứ?

 

Con có liên lạc với Cha Thắng, “người La Mă”? Con có địa chỉ của Cha Thắng và cho Cha biết với không? Nhóm nhỏ những kẻ lưu đày phải hiệp nhất với nhau….

 

Cha Ginhoux đă từ trần sau một cơn đau tim ngày 16 hoặc 17 Tháng Bảy vừa qua. Trẻ trung và năng nổ, Ngài đă nhận làm Tuyên Uy quân đội ở Pháp, ở đó Ngài rất thành công với những bạn trẻ bị động viên. Về nghỉ phép một ngày tại gia đ́nh, Ngài bị đau bất th́nh ĺnh và qua đời chỉ trong giây lát. Cha Faugère làm quản lư một Nhà Hưu Dưỡng cho các thừa sai có tuổi: đó là một công việc bác ái mà Ngài rất nỗi bật.

 

Cha nói lại với con tất cả ḷng yêu mến của Cha. Thỉnh thỏang hăy viết cho Cha và yên tâm rằng Cha luôn cầu nguyện cho con.  

 

Paul Seitz, GM.  

 

Bien Cher Fils,

 

Ta lettre du 1 Octobre m’a fait un très grand plaisir d’abord parce que les nouvelles qu’elle m’apporte sur toi-même et ton entrée au Grand Séminaire, mais aussi la fidélité de ton souvenir.

 

Nous sommes l’un et l’autre des exilés dont the Coeur demeure au Vietnam mais nous ne devons pas rester sur un plan affectif, il nous faut effectivement vivre en communion d’effort et de travail avec tous ceux du Vietnam. Il faut vivre aujoud’hui dans l’espérance qu’un jour tu retrouveras  ton diocèse de Kontum, pour y travailler en vrai missionaire.  Pourquoi pas? ………

 

Par ailleurs, es-tu en relation avec Thắng, “le Romain”, as tu son adresse et veux-tu que je la communique? Il faut que le petit groupe des exilés demeure unis. …………

 

Le Père Jean Ginhoux est mort d’une crise cardiarque le 16 ou 17 Juillet dernier. Jeune et dynamique, il avait accepté un apostolat d’Aunomier Militaire en France où il reussissait très bien auprès des jeunes gens mobilsés. Venu en congé d’une journée dans sa famille, il a été pris d’un malaise subit et est mort en quelques instants.

 

Le père Faugère est économe d’une Maison de retraite pour les missionaries agés: c’est un office de charité ̣u il excelle.

 

Je te redis toute ma cordiale affection – Ecris moi de temps en temps et sois assure de ma prieøre.                                        

                                                    

Paul Seitz  Ev

 

Những gịng chữ Đức Cha viết trên không chỉ nhắn nhủ  tới chỉ ḿnh tôi, nhưng tới tất cả những người con của Ngài, mà một thời gian Ngài đă yêu thương, săn sóc và đặt rất nhiều hy vọng.  Giờ đây, mỗi người một lối sống, nhưng sống trung thành, phó thác như Mẹ Maria, và tâm hồn luôn hướng về địa phận, vẫn là một lời nhắn nhủ rất ân cần đến mỗi một người chúng ta thấy ḿnh đă có diễm phúc gặp gỡ Ngài.      Requiescat in Pace.

                                                                             

Tulsa những ngày đầu năm 2003

Nguyễn Ngọc Tâm


 

 

                       Revs Truyền, Tâm, Bảy                                         Revs Tâm, Liên tại Oklahoma

 

 

 Anh Long cvk61 và Rev Thắng tại Roma                                            A/C Trung 62 tại nhà A/C Hai Thoại, Pháp