DÂN LÀNG HỒ  (tiếp theo kỳ trước)

(LES SAUVAGES BAHNARS)

 

của Linh mục Pierre Dourisboure (Cố An)
nói lên

BƯỚC ĐẦU TRUYỀN GIÁO  VÀ KHAI PHÁ MIỀN CAO NGUYÊN KONTUM

(Hồi kư của một linh mục thừa sai.)

 

Đôi lời giới thiệu

 

Linh mục Pierre Dourisboure (Cố An) sinh ngày 19 tháng 9 năm 1825 tại Briscous miền Tây Nam nước Pháp, cận biên giới Tây Ban Nha.

 

Năm 1864, vừa 21 tuổi, sau những năm theo học tiểu chủng viện và đại chủng viện tại quê nhà, Ngài gia nhập Hội Thừa sai Ba-lê. Ba năm sau, vừa thụ phong linh mục, Cha liền được sai phái sang "Địa phận Đông Đàng Trong (Trung bộ Việt Nam) để tham gia xây dựng một miền Truyền giáo mới, nơi các dân tộc Thượng lưu trú tại vùng rừng núi ở khoảng giữa sông Mêkông và biển Đông, do Đức Cha Cuénot (Đức Cha Thể), giám mục địa phận, chủ xướng từ lâu.

 

Sống giữa nơi rừng thiêng nước độc, chịu đủ mọi thứ hiểm nguy : thú dữ, bệnh tật, với cảnh cô đơn thiếu thốn cùng cực, cha đă đứng vững được những 35 năm trên miền truyền giáo Thượng này; trong khi nhiều vị Thừa sai khác, đồng lưu với ngài, đă không ai sống nổi quá 10 năm, cá biệt có vị chỉ sau vài ba tuần đặt chân lên đất Cao nguyên đă phải ĺa trần v́ không chống cự nổi với các ‘hung thần’ sốt rét rừng và kiết lỵ, mặc dù các vị đang ở độ tuổi thanh xuân cường tráng !

 

Cha có về Pháp nghỉ dưỡng bệnh khoảng một năm, rồi trở về lại nhiệm sở núi rừng của Ngài, ở măi cho đến năm 1885. Sau đó, Ngài được gọi về Sài g̣n dưỡng bệnh bằng cách nhận chức danh cha Bề trên Chủng viện. Cách dưỡng bệnh hi hữu này thật bi thảm : nuôi bệnh cho ngày càng trầm trọng hơn, nên chỉ một ít lâu sau, Ngài phải sang Hồng Kông t́m thầy chạy thuốc. Bệnh t́nh không thuyên giảm, Cha phải bỏ Hồng Kông về Pháp. Vừa cập bến Marseille ít hôm, Ngài qua đời ở đó, hưởng thọ 65 tuổi.

 

Vào năm 1929, tức 39 năm sau ngày Vị Truyền giáo này qua đời, Hội Thừa sai Ba-lê mới cho ấn hành thiên Hồi kư "Les sauvages Banhars", mà bạn sắp đọc.

 

Đây chẳng những là một tài liệu quí giá cho người viết sử truyền giáo miền Cao nguyên Kontum, mà c̣n là một tác phẩm khảo sát lư thú và là thiên Hồi Kư đặc sắc, đơn sơ, thành thật, tả chân, đến độ gây cảm xúc mănh liệt.

 

Cha Adrien Launay, trong bài mở đầu quyển Hồi Kư này, lần xuất bản năm 1929, đă viết : "Tất cả những ai có dịp đọc tác phẩm này đều hết lời ca ngợi, và tôi được biết đă từng có người qú gối xuống dâng lời khẩn nguyện sau khi đọc lại trang nào đó trong quyển Hồi Kư này, mắt đẫm lệ…".

 

Người dịch xin mạn phép đặt đầu đề cho bản dịch là "Bước đầu truyền giáo và khai phá miền Cao nguyên Kontum". Như vậy hợp với nội dung thiên Hồi Kư hơn, v́ phần khảo sát phong tục tập quán, cách sinh sống của người Ba-na chỉ chiếm một ít trang thôi; vả lại Hồi Kư c̣n nói đến các dân tộc Sơ-đăng, Giơ-rai chớ không riêng ǵ dân tộc Ba-na.

 

Ngày nay Cao nguyên Kontum-Gia lai được mở mang về đủ mọi mặt, có hàng trăm ngàn dân cư sinh sống. Với tâm t́nh "kẻ ăn quả nhớ người trồng cây", người dịch xin kính tặng đồng hương của ḿnh bản dịch thô sơ của thiên Hồi Kư xuất sắc này.

 

Sài g̣n, ngày 1-10-1972
Lễ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu
Bổn mạng các Xứ Truyền Giáo


 

CHƯƠNG 9

DÂN TỘC RƠ NGAO - PHÂN CHIA CÔNG TÁC

 

Chúng tôi đă định cư được nhiều tháng ở Kon Kơ Xâm rồi, thế mà vẫn không hay biết ở gần kề chúng tôi có hay không một vùng đồng bằng mà Đức Cha Cuenot đă nghe nói đến và đă chỉ thị cho chúng tôi phải t́m kiếm cho bằng được. Như tôi đă nói, ông Hmur lo đi mua gạo khắp các làng thượng trong vùng giúp chúng tôi. Sau chuyến ông đến làng Kon Rơ Bang mua gạo, vài ba người dân làng nầy v́ ṭ ṃ và cũng v́ ham lợi đă mạo hiểm đến tận nơi chúng tôi ở để đích thân bán gạo. Họ nói với chúng tôi rằng ngay phía bên kia dăy núi Kon Kơ Xâm có một đồng bằng nằm trải dài hai bên bờ sông Dak Bla, cách chừng hơn một ngày đuờng đi về phía Tây. Người ta cấm Ông Hmur không bao giờ được đưa chúng tôi đến đó và hăm dọa Ông dữ tợn đến nỗi ngay cả việc nói cho chúng tôi biết là có một chỗ bằng phẳng như vậy, ông cũng không dám. Chúng tôi vui mừng quá đỗi với tin tức vừa nhận, mặc dầu chúng tôi chưa thấy có cách nào để thi hành chỉ thị của Đức Giám Mục. Từ ngày đó, chúng tôi không ngừng thúc dục anh em dân làng Kon Kơ Xâm đưa chúng tôi đến xứ sở người Rơ-ngao.

 

Cuối cùng, do bị quấy rầy quá, một người anh em trong dân làng hứa sẽ làm chúng tôi thỏa măn và hẹn ngày dẫn chúng tôi đi. Nhưng bị dân làng khiển trách nặng nề và v́ sợ anh ta mới nghĩ ra một kế hoăn binh. Như tôi đă nói ở trên, con sông Dak Bla chảy từ Bắc xuống Nam để rồi khi đến Kon Kơ Xâm th́ đột ngột đổi hướng chảy về phía Tây, do đó tại đây mỏm đất bị nước chảy xiết tạo nên một bán đảo. Đến ngày hẹn, anh chàng dẫn đường cùng chúng tôi vượt sông Dak Bla ngay trước nhà. Chúng tôi ngạc nhiên biết bao bởi sau khi đă đi được hơn nửa tiếng đồng hồ mà vẫn tựa như thấy ḷng ṿng trên sông Dak Bla hoài ! Nơi đây không có làng, không có sỏng mà nước lại quá sâu không thể lội qua được. Anh chàng hướng đạo ngỏ lời cố đi t́m một chiếc sỏng; rồi anh bơi qua sông, mất hút vào cánh rừng bên kia. Chúng tôi chờ anh ta suốt cả ngày hôm đó, bụng đói meo, và khi đêm đến, chúng tôi buộc ḷng phải quay trở về mặt buồn thiu ! Chàng trai đáng thương nầy đă phải trả giá khá đắt v́ tội lừa dối : suốt gần hai năm sau anh không dám chường mặt trước chúng tôi và nếu t́nh cờ gặp chúng tôi anh liền bỏ chạy mất hút. Sau nầy chúng tôi mới biết người ta đă hăm dọa anh đến nỗi anh đă phải cố ư đánh lừa chúng tôi như trên v́ quá sợ hăi.

 

Trong lúc đợi ở bờ sông, chúng tôi đă tắm và tôi bỏ quên trên băi cát tượng Thánh giá mà tôi thường đeo trên cổ, dân làng Kon Kơ Xâm đi qua đó nhặt được; họ bàn với nhau xem sờ vào vật nầy có bị nguy hiểm ǵ không, và ḷng tham đă thắng mê tín, họ đă lấy tượng Thánh giá đem về. Tôi nói tham lam là không có ư nói họ muốn chiếm đoạt tượng Thánh giá; việc trộm cắp là việc không hề có hay rất ít xảy ra nơi dân tộc Ba-na. Nhưng họ lại có thói quen bắt người có vật đánh rơi phải chuộc; và họ hy vọng tôi sẽ chuộc vật bị mất với giá cao. Lúc họ về gần đến làng th́ sự mê tín lại có phần thắng thế. Vật kỳ lạ nầy chắc phải có uy lực ǵ siêu phàm đây; h́nh tượng nầy phải chăng là thần linh, sao lại dám đem vào trong làng ? Làm sao đây ? Suy tính kỹ, họ đem treo tượng Thánh giá trên cây ngoài làng và đến hỏi chúng tôi có muốn chuộc lại hay không. V́ họ đ̣i giá chuộc quá cao, Cha Combes nói với họ đó là vật linh thiêng, không thể bán mà cũng không thể mua lại được. Vậy những người đáng thương nầy phát sợ, xin chúng tôi đích thân đến gỡ xuống, và nhất là đừng để xảy ra tai ương ǵ cho họ v́ đă dám chạm đến vật đó.

 

Ít ngày sau, anh em Thượng làng Kon Rơ Bang thấy đến tận nơi bán gạo cho chúng tôi có lợi nhiều hơn, cho nên đă trở lại một lần nữa và đồng ư đưa chúng tôi đến làng họ. Cuộc hành tŕnh đi bằng sỏng trên sông Dak Bla, chỉ có Cha Combes và thầy Sáu Do tháp tùng. Trở về, hai người đă thuật lại cho nghe biết bao điều kỳ thú về xứ Rơ-ngao : "Cuối cùng chúng ta cũng đạt đích điểm cuộc thám hiểm rồi. Xứ Rơ-ngao đúng là miền đất đáp ứng được nguyện vọng của Đức Cha". Tương tự như để rèn sắt khi c̣n nóng, chúng tôi liên tiếp tổ chức nhiều chuyến du khảo. Kết quả là mua được một căn nhà ở làng Rơ Hai cạnh Kon Rơ Bang, với giá 5 đồng phật lăng, không hơn không kém; người chủ rời nhà và ra đi cất nhà khác. Lập tức chúng tôi cho Thầy Sáu và một ít người Kinh nữa trong Đoàn đến ở trước, sau đó chúng tôi thong thả mới đến.

 

Đến Rơ Hai được mấy hôm trong căn nhà mới, Cha Combes, Thầy Sáu và tôi, chúng tôi lại theo gịng Dak Bla mở cuộc thám sát mới. Chúng tôi tự nhủ : "Sông nước là của chung cho mọi người. Nếu các làng ở hai bên sông không đồng ư mở cửa cho chúng ta vào th́ chúng ta lại lê sỏng đi tiếp, có sao đâu !" Chúng tôi đem theo số gạo đủ dùng và rồi tới đâu hay đó ! Đi được độ hai tiếng đồng hồ, chúng tôi gặp một người đàn ông tự xưng là chủ làng và mời chúng tôi đến nhà. Ông ta ở làng Tơ Bầu, đi bộ chừng mười lăm phút trong đất liền. Chúng tôi để sỏng nơi bờ và đi theo ông ta. Năm phút sau chúng tôi phải dừng chân lại, v́ có cuộc gặp gỡ khác không mấy dễ chịu, tôi muốn nói đến việc chúng tôi gặp hai mẹ con nhà cọp mà cọp con đă lớn bằng một con cừu đực. Hai mẹ con đang men theo một lối ṃn khác, cách chúng tôi chừng năm mươi bước. Thấy chúng tôi, xem bộ chúng không bối rối ǵ cả, cọp mẹ dừng lại quan sát chúng tôi vài giây, rồi thản nhiên bước đi không chút vội vă. Đó là lần thứ nhất tôi nh́n thấy rơ ràng một con cọp hoang và trong khoảnh khắc, tim tôi đập mạnh. Cha Combes và tôi thận trọng đến sát hai gốc cây để leo lên trong trường hợp con thú dữ tỏ dấu thù nghịch; nhưng, cám ơn Chúa, cách dự pḥng đó đă tỏ ra vô ích.

 

Hai con cọp vừa khuất vào rừng rậm th́ một vật lạ khác làm chúng tôi phải trố mắt nh́n. Một pho tượng tạc người đàn ông, không biết làm bằng kim loại ǵ, cao độ một mét, và tứ chi được đúc rất mỹ thuật. Pho tượng đứng dưới một gốc thân cây, chung quanh cách độ mười lăm bước có một cái mương bảo vệ và bên ngoài là một hàng cây lớn mọc bao quanh. Chắc chắn không phải là người Thượng nào đó đă đúc pho tượng này. Tượng nằm ngay giữa rừng và một vài vật khác nữa đều được làm bởi những bàn tay khéo léo hơn anh em Ba-na rất nhiều, làm cho chúng tôi tin rằng trước kia xứ này đă có một giống dân khác sống ở đây, văn minh hơn người Thượng hiện nay.

 

Người đă gặp chúng tôi ở bờ sông và đă đưa chúng tôi tới làng Tơ Bâu tên là Piunh. Ông đón chúng tôi vào nhà và tiếp đăi khá tử tế. Sáng hôm sau, ông ta t́nh nguyện chèo sỏng đưa chúng tôi đến Pơ-ley-Krong, một làng khá lớn nằm tại ngă ba sông Dak Bla và sông Pơ Kô. Sông Pơ Kô cũng lớn bằng sông Dak Bla, chảy từ Bắc xuống Nam trước khi tháp nhập vào nhau. Cả hai con sông làm thành một con sông lớn, chảy về hướng Tây Nam, và rồi được sông Bơ-nông tăng cường thêm, tất cả đổ vào sông Mê Kông. Pơ ley Krong là địa điểm cuối cùng của đồng bằng Rơ ngao. Giữa đồng bằng này và những đồng bằng trải dài từ phía Tây cho đến Lào, có một dăy núi chiếm một vùng khá rộng từ Bắc xuống Nam, song song với các dăy núi xứ Ba-na. Trong đêm chúng tôi nghỉ tại làng Tơ Bâu th́ tôi lên cơn sốt khá nặng. Tôi không thể tháp tùng theo Cha Combes và Thầy Sáu trong chuyến khảo sát mới này và đành phải nằm lại nhà anh Piai, em của ông Piunh.

 

Tôi muốn thuật lại một chuyện nho nhỏ đă xảy đến cho tôi trong đêm tạm trú tại làng Tơ Bâu. Chúa đă cho phép xảy ra để tôi đừng quên người Thừa sai phải luôn tin cậy vào sự quan pḥng của Chúa, Đấng biết rơ số tóc trên đầu chúng ta và không để sợi nào rơi rụng xuống đất mà không có phép riêng. Vậy sau một ngày mệt mỏi và chán ngán v́ sốt rét, tôi nằm nghỉ trên chiếc chiếu cạnh bếp lửa. Gần bên tôi là chiếc gùi tôi thường mang sau lưng trong các chuyến đi, mà lần nầy vỏn vẹn chỉ có một bộ quần áo, vài giây chuỗi hạt thủy tinh và ít miếng thiếc. Hai món sau dùng làm tiền để đổi gạo ăn hằng ngày. Lúc ấy có vài thanh niên và một người lớn tuổi ngồi xổm bên bếp hút thuốc và nói chuyện ŕ rầm. Tôi nhắm mắt để giỗ giấc ngủ mà không sao đạt được, nhưng bọn họ tưởng tôi đă ngủ say, bèn trao đổi với nhau những lời sau đây : "Có thứ ǵ trong gùi nhỉ ? Nếu có vật chi quư giá th́ chúng ḿnh sẽ dễ dàng khử trừ người lạ này. Nó ngủ, nó không thấy chúng ta đâu. Thử coi xem." Thế rồi một thanh niên lén đến gần, lấy chiếc gùi, đổ ra trước mặt cả bọn. Chúng không hài ḷng bao nhiêu khi thấy đồ đạc quá ‘hẻo’ của tôi, nên người đàn ông lớn tuổi trong bọn nói : "Bỏ tất cả lại vào gùi; không có ǵ đáng để làm hại một mạng người. Vả lại ai biết được người lạ nầy thế nào và có uy lực ra sao ?" Thế là họ tuyên bố tha bổng cho tôi ! Và phút hồi hộp nghẹt thở qua đi. Sáng ngày, nhớ lại việc khi đêm, tôi hết muốn ở lại làng nầy lâu hơn nữa; và mặc dầu các bạn tôi đi khảo sát chưa về, tôi cũng một ḿnh rời khỏi làng để trở lại Rơ Hai, chẳng ngại mẹ con nhà cọp đón đường và cũng không chắc có t́m được sỏng mà về nhà không. Chúa ḷng lành lo liệu hết mọi sự, và tôi đă về tới nhà b́nh an.

 

Sau đó chúng tôi được biết làng Tơ Bâu là một làng cá biệt, dân làng toàn là thứ người nham hiểm, không giống như anh em Thượng các làng khác. Na ná như thị tộc của Romulus xưa kia, tập hợp những người trốn nợ hoặc du thủ du thực tứ xứ. Thế nhưng Chúa nhân lành vốn muốn cho kẻ dữ sống chỉ để sinh ích lợi cho người lành thôi, cho nên làng nầy đă giúp chúng tôi nhiều việc quan trọng khác, và sự rộng răi của chúng tôi dành cho họ làm họ luôn luôn tận tâm với chúng tôi trong lúc các làng Thượng khác ít dám giao dịch. Thầy sáu kết nghĩa anh em với ông Piunh theo tục lệ; và t́nh bạn này, mà chúng tôi vốn đă hổ thẹn và không muốn kết giao làm ǵ, bởi các hành vi, điệu bộ tham lam của bạn bè ông ta; nhưng sau này việc kết thân lại giúp ích cho chúng tôi rất nhiều. Sự kiện nầy cũng như nhiều việc khác nữa tôi đă hoặc sẽ thuật lại, chứng tỏ Chúa Quan pḥng luôn luôn phù giúp chúng tôi khi cần, nhiều khi rất bất ngờ và đôi khi ngoài ư muốn của chúng tôi.

 

Cha Combes trở về Rơ Hai sau tôi một ngày. Chuyến đi đă đem lại nhiều khám phá mới. Sau đó không lâu chúng tôi lại lên đường và nhờ một vài lần đi dọc theo sông Bla, qua cả xứ Rơ-ngao, chúng tôi biết được có nhiều bộ lạc khác nhau chiếm cứ các phần đất phía Bắc và phía Nam.

 

Gọi chung là Ba-na, nhưng mỗi bộ lạc có tên riêng của ḿnh. Phía Bắc, có bộ lạc Sơ-đang. Người Sơ-đang nói chung to con hơn, thô bạo hơn và khó giao tiếp hơn người Ba-na vốn hiền hậu và lịch sự; đổi lại người Sơ-đang siêng năng hơn và cũng cố chấp hơn trong các tập tục mê tín, trong khi dân Rơ-ngao th́ lười biếng và thờ ơ bất cần. Ngoài công việc đồng áng như các bộ lạc khác trong vùng, dân Sơ-đang c̣n làm đồ sắt vài tháng trong năm. Trong những dăy núi họ ở có rất nhiều mỏ sắt và nếu căn cứ trên số lượng và trên phẩm chất của loại sắt mà họ thu hoạch được gần như trên mặt đất và với phương tiện thật là thô sơ, th́ ta có thể đoán không sai các mỏ sắt nầy rất có chất lượng. Tất cả người Thượng mà tôi biết, đều mua dụng cụ và khí giới nơi bộ lạc Sơ đang. Cũng nói qua cho biết : sắt, vải bông và muối là ba mặt hàng buôn bán thông thường nhất ở xứ Thượng. Người Sơ-đang giữ độc quyền về sắt ; người Rơ-ngao cũng như người Ba-na phía Tây th́ trồng bông dệt vải; Người Ba-na phía Đông, gần An nam, không có bông không có sắt, th́ buôn bán muối do phía Nam bộ cung cấp. Trong thời kỳ tôi đang nói đây th́ bộ lạc Giơ-rai chiếm cứ một phần đất rộng lớn ở phía Nam sông Đak Bla, nay đă phân tán đi các nơi, sát nhập vào các bộ lạc khác v́ sợ dân Ha-drông.

 

Chúng tôi đă thông báo cho Đức cha Cuenot hay biết tất cả những khám phá vừa qua, và ngài đă phúc đáp bằng những chỉ dẫn. Qua thư, ngài phân công cho anh em chúng tôi như sau : Cha Fontaine phải ở nơi dân Giơ-rai; cha Combes lănh chức Bề trên Miền Truyền giáo, đại diện Đức Giám mục và tiếp tục lo cho dân Ba-na; c̣n tôi, tôi phải đến với các chú thợ rèn Sơ-đang. Tại Rơ-ngao (làng Rơ Hai, Kontum) th́ có Thầy phó tế Do và Cha Desgouts cùng với một số đông anh em trong Đoàn đặt bản doanh ở đó. Ư Đức Cha muốn dần dần tạo lập tại xứ Rơ ngao tốt đẹp này một trang trại kiểu mẫu, vừa là một chiến lũy đối phó được với mọi trường hợp thù địch từ phía người Thượng, vừa là một địa điểm tập trung, là hậu cần tiếp tế cho các thừa sai trong Miền. Cuối cùng, Đức Cha cũng chưa quên ư định thiết lập một chủng viện ở đó, và cũng v́ vậy mà ông bạn già của chúng tôi vẫn giữ nhiệm vụ tuyên úy cho cơ sở Rơ-Hai, trong khi chờ đợi triển khai ngôi nhà chủng viện tương lai để rồi ngài sẽ thi hành tất cả phần vụ và quyền hành của một cha bề trên. Chúng tôi đă nhận biết thánh ư Chúa qua mệnh lệnh của Đức giám mục. Vấn đề c̣n lại là t́m phương tiện để mỗi người đến được nơi đă chỉ định. Cha Combes không phải đi đâu cả v́ đang ở đúng nơi chỉ định rồi. C̣n Cha già hiền hậu (Cha Desgouts), chỉ có việc leo lên sỏng xuôi theo ḍng nước tới Rơ Hai là xong. Phần Cha Fontaine và tôi, có phần khó khăn hơn một chút.

 

Ngày nọ Cha Combes xuống Rơ Hai gặp một người dân làng Kon-Trang vốn là một trong những người có thế giá nhất làng, tên là Ba Nang. Kon-Trang là một làng lớn nằm ở phía Bắc xứ Rơ-ngao, là cửa dẫn vào phần lănh thổ bộ lạc Sơ-đang; làng Kon-Trang cũng thuộc bộ lạc nầy và cũng nói tiếng Sơ-đang. Tôi quên nhắc là người Sơ-đang và người Giơ-rai có ngôn ngữ khác nhau và cũng khác ngôn ngữ Ba-na. Kon Trang là một trung tâm mua bán giữa dân Rơ-Ngao và dân Sơ-đang. Người Lào đôi khi cũng đến đó để bán trâu và mua nô lệ hoặc vàng vụn, đăi từ sông Pơ kô và từ nhiều con suối khác vốn chứa rất nhiều vàng. Hơn các dân thượng khác, dân làng Kon-Trang quen nh́n thấy người Lào nên ít hăi sợ khi thấy người ngoại quốc đến. Cha Bề trên Combes nghĩ nên cố gắng làm cho dân làng nầy chấp nhận tôi v́ thế ngài đề nghị với ông Ba Nang đem tôi đến Kon-Trang, ông dễ dàng đồng ư và đă nán ở lại thêm hai ngày để đợi và dẫn tôi đi, lại có thêm một kẻ giảng người Kinh tháp tùng tôi. Cha Combes đă đưa tôi đến ở Kon Trang, nghỉ lại một đêm với tôi và sáng hôm sau ngài trở về, bỏ tôi một ḿnh trong nhiệm sở mới.

 

Ít ngày sau, Cha Fontaine đến định cư với người dân tộc Giơ-rai tại làng Pơ ley Chu. Như thế, chúng tôi đă tạo thành một h́nh tam giác với ba góc là Kon-kơ-Xâm, Kon-Trang và Pơ-ley-Chu; Rơ-Hai hầu như nằm ở giữa trung tâm của tam giác này. Cha Fontane và tôi đều cách xa Rơ Hai trọn một ngày đường; Cha Combes th́ cách xa chỉ nửa ngày thôi. Sau một năm làm quen với thủy thổ, khí hậu, tôi đă phục hồi lại được phần nào sức lực trước kia và rồi có thể sáng sớm ra đi từ Kon-Trang để đến Kon-kơ- Xâm cùng ngày lúc mặt trời lặn. (C̣n tiếp)


 

  

A/C Nguyễn Quang Trung 62 tại Paris       A/C Ngô Đại Thành 55 tại Boston, USA    Anh Nguyễn Văn Khải 61 trước Dinh Độc Lập (cũ)