KONTUM, MỘT ĐỊA DANH  MANG TÍNH DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO.

 

KONTUM  hôm nay vẫn c̣n sống và măi măi tồn tại. Nó có một chỗ đứng trong ḍng thời gian lịch sử và trong ḷng mọi người đang sống trên vùng đất đượm t́nh  người và bao hy sinh của các vị thừa sai ngoại quốc cũng như người Việt nam dày công xây đắp, nay đă  đúng  một thế kỷ rưỡi kể từ ngày đoàn truyền giáo đặt chân vào năm 1851 tại Plei Rơhai (Tân Hương ngày nay), một Trung Tâm Truyền giáo cho người Bana-Rơngao. Khởi đầu, địa danh  KONTUM nhỏ bé tựa như hạt cải, nhưng khi nó mọc lên, lớn dần, Chim Trời có thể đến nương đậu được. Tuy nhiên, t́m hiểu sự h́nh thành địa danh KONTUM và đâu là những yếu tố cấu tạo để nó chiếm lĩnh  mọi mặt trên cả vùng Tây Nguyên nầy măi đến ngày nay, không phải là một việc dễ làm! Chúng tôi xin tŕnh bày KONTUM, MỘT ĐỊA DANH TÔN GIÁO dưới những khía cạnh sau đây với một số  sử liệu ít ỏi và có giới hạn. Chúng tôi mong cũng được quư vị nghiên cứu có  các sử liệu đầy đủ bổ túc và hoàn chỉnh.

 

I - Diễn biến toàn vùng trước khi h́nh thành địa danh "KONTUM".

 

II - Đặt tên và ư nghĩa địa danh buôn làng trên vùng dân tộc nói chung và địa danh "KONTUM" nói riêng.

 

III - Yếu tố cấu tạo làm cho địa danh  "KONTUM" trở nên quan trong  toàn vùng.

 

I-DIỄN BIẾN TOÀN VÙNG TRƯỚC KHI  H̀NH THÀNH ĐỊA DANH "KONTUM".

 

Địa danh "KONTUM" không xuất hiện từ xa xưa trên vùng người dân tộc Tây Nguyên nầy, như địa danh "AYONAPAR" của người Jrai, hoặc như 'TÂY SƠN", hay "KON KƠXÂM" hoặc như địa danh "RƠHAI" . . . Nhưng nó  mới  manh nha vào giữa thập niên 50 của thế kỷ XIX và dần dần giữ vai tṛ trọng yếu trong các thập niên kế tiếp, nhất là vào đầu thế kỷ XX vừa qua. Vậy, để hiểu rơ lư do nào địa danh KONTUM nhỏ bé chiếm giữ được vai tṛ chủ đạo so với các địa danh lâu đời khác, thiết nghĩ chúng ta cần nh́n lại  t́nh h́nh toàn vùng Tây Nguyên trước khi địa danh KONTUM thai nghén và chào đời.

 

1. T́nh h́nh Tây Nguyên vào thời nam tiến:

 

Vua Lê Thánh Tông.

Tây Nguyên là vùng đất có một số cư dân dân tộc ít người cư trú và sinh sống. Từ xa xưa, vùng đất nầy là chỗ giao lưu chủng tộc hơn 10 dân tộc thuộc hai ḍng ngôn ngữ Nam Á (Môn-Khơme) và Nam Đảo (Malayô-Polymêdien). Nhóm ngôn ngữ  Môn-Khơme là Bana, Sơđăng, Kơho, Mnông……. . . . và nhóm thứ hai Nam Đảo là Jrai, Êđê . . .  Có lúc các bộ tộc nầy xung đột nhau găy gắt, cũng có khi hoà hoăn cùng nhau chống ngoại xâm.

 

a. Vào năm  Canh Th́n (1470), vua Chiêm Thành là Trà Toàn đem quân đánh phá Hóa Châu. Vua Lê Thánh Tông cử đại quân chinh phạt Chiêm Thành, chiến thắng đến tận sông Phanrang, lấy phần đất  đánh lấy được sát nhập và lập ra Thừa Tuyên thứ 13 gọi là Quảng Nam Thừa Tuyên, gồm 6 phủ : Thăng Ba (nay là Quảng Nam), Tư Ngăi (Quảng Ngăi), Hoài Nhơn (Quinhơn), Phú An (Phú Yên), Thái Ninh (Khánh Ḥa), Ḥa Thuận (Phan Rang), đặt dưới quyền cai trị của ông Phạm Nhữ Tăng. Phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện là Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn.  Phù Ly đóng tại thành Đồ Bàn.

 

Trong lần chinh phạt nầy, vào năm 1471, khi vua Lê đánh Đồ Bàn, Vua Chiêm là  Trà Toàn bị bắt, em là Trà Toại trốn lên Thượng Nguyên châu liên lạc với các tướng Sandak Tamrac, lo việc kháng chiến. Nhưng lực lượng này c̣n khá mạnh ở Tây Biên và Nam Biên Vijaya. Đa Thủy cai trị đất  Đại Chiêm (Quảng Nam) kiêm lĩnh luôn Vijaya (B́nh Định) tạo thế mạnh vùng biên giới, rồi rút quân về. Tuy nhiên, nhà vua mất nhiều công sức để khuất phục dân khí Vijaya.

 

Từ năm 1570-1611, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng áp đảo quân Chiêm. Măi  đến năm 1611, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng mới mở đất vào đến Phú Yên, thực sự dàn trải lực lượng người Việt đến biên giới Đá Bia - Đại Lănh.

 

Năm 1629, Chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên sai quan Phó Tướng Nguyễn Phúc Vinh vào đánh dẹp trừ loạn Văn Phong, đắp thành lập dinh Trấn Biên đến giữ vùng đất phía nam và phía tây. Do đó, trong thời kỳ nầy, Chúa Nguyễn chưa tây tiến chiếm vùng Tây nguyên ngày nay.

 

b. Người Chiêm Thành có liên hệ với những dân tộc vùng núi, nhất là vùng Jrai, như vừa tŕnh bày. Họ gọi các bộ tộc miền núi nầy là Kiratas tức là người Thượng .

Nhà Nguyễn Gia Miêu gọi Tây Sơn là Sơn Man, như trong câu :

 

" Dưng can kỳ thề bốn mặt cổng Tần,

   Thừa thuở Sơn Nam thất thế"  .

 

Cũng vào đời Nguyễn Gia Miêu có các phủ Trấn Man, Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn Định, Lạc Biên, 9 châu thuộc Cam Lộ.

Khi c̣n là Long Nhương Tướng quân đem binh diệt họ Trịnh, tiếp xúc với các nhân vật Bắc  Hà, Nguyễn Huệ thường tự xưng bằng danh hiệu Hang Núi, như câu :

" Hang Núi tự ngàn dặm đem quân đến đây".

 

Tên để chỉ những thổ dân miền núi Tây Nguyên thường là Mọi, Kha. Từ  " Mọi", "Kha" cũng khá quen dùng trong dân gian, ngay cả trong văn kiện của thực dân Pháp vào đầu thế kỷ XX .

 

2. Tên gọi theo bộ tộc.

 

 Ngoài những tên gọi tổng quát: Thượng Nguyên châu, Trấn Man. Kiritas, Sơn Man, Hang Núi, Rợ-Man, Rợ-Mọi  . . ., chúng ta  cũng gặp được những danh xưng chỉ  từng  dân tộc một trên vùng Tây nguyên .

 

a/ Để gọi người dân tộc Sơđăng, thời kỳ Gia-Long, Minh Mạng gọi họ là người Vách Đá. Nhưng cũng nhiều lúc danh xưng nầy cũng ám chỉ các dân tộc thiểu số vùng Trường Sơn.

Người Sơđăng thường hay quấy nhiễu, Lê Văn Duyệt cho người t́m hiểu và biết được chỉ v́ Lê quốc Huy gây tội ác cho người Vách Đá. Ông cho chặt đầu Huy để phủ dụ người Vách Đá.

 

b. Vào thời kỳ Tây Sơn, người Bana vùng Tây Sơn Thượng (An Khê ngày nay) được gọi là Bana Bơnâm (Bana vùng dưới) [1] ; dân tộc Bana vùng Kontum  ngày nay được gọi là Rơngao.

 

c. Người Jrai có một cơ chế xă hội đặc biệt , nhất là vùng Ayonapar  có Vua Lửa, Vua Nước. Chúng ta gọi là cơ chế Pơtao (vua). Để hiểu rơ hơn, chúng ta đi sâu hơn về cư dân ít người nầy:

 

   + Người Jrai (vùng Pleiku ngày nay) được gọi là người Hơdrung. Núi nầy ngày nay gọi là Hàm Rồng nằm về phía nam thành phố Pleiku ngày nay 10 cây số.

 

   + Riêng người Jrai vùng Plei Kly (Phú Nhơn huyện Chư Sê)  và Ayunpa ngày nay, xưa kia được gọi như thế nào ?.

Truy tầm địa danh xa xưa của người Jrai vào thế kỷ XVII dựa trên bản Hiến Chương của người Campuchia tại đền ở Sambốc (Campuchia). Người Campuchia gọi vùng đất của Vua Lửa và Vua Nước là AYONAPAR (chỉ vùng đất của hai con sông lớn tạo nên là Ayun và Apar mà nay thường gọi là sông Ba, đổ ra biển phía Phú Yên), nhưng thực chất nó bao hàm cả vùng đất triền phía Tây đến lănh thổ Campuchia .

 

Từ thế kỷ XVI, mối quan hệ chính trị giữa vùng đất nầy với các triều đ́nh phong kiến đă xuất hiện, dù lỏng lẻo, mập mờ.

Trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ có nói đến 6 Bộ và những công sở của Kinh Thành. Những tờ tŕnh về mối bang giao với Trung Quốc, với các thuộc cốc như Vạn Tượng, Nam Tưởng, Cao Man, Thủy Xá và Hỏa Xá, Xiêm, Miến Điện th́ có khá nhiều. Thay v́ dùng địa danh chỉ vùng đất, người ta cũng dùng tên của các vua người Jrai để chỉ vùng lănh địa chiếm cứ của Vua Lửa, Vua Nước và lănh thổ của hai  Vị Vua nầy ở Nam Bàn .

 

Theo Hoàng Việt Địa Dư Chí, quyển nhất từ trang 12A đến 13 A, ùng đất Vua Lửa Vua Nước, hoặc các mối bang giao được ghi nhận rơ ràng và tương đối là chi tiết, như nói đến những trao đổi tặng phẩm giữa Triều đ́nh Huế,  nhất là Vua Minh Mạng với hai Vị vua nầy. Nhà Vua "đă ban cho tên họ và chiếu sắc đă viết thẳng ra là Quốc Trưởng nước Thủy xá cùng truyền cho Bộ Lễ rằng từ nay về sau nước ấy có dâng cống th́ trong tờ biểu văn cũng viết là Quốc trưởng cho đúng danh xưng".

 

Nhưng vào cuối thế kỷ XIX, trước khi thực dân Pháp sang, theo ông Đặng Nghiêm Vạn và tập thể giáo sư cho rằng vùng đất Ayonapar được gọi hẹp lại bằng tên Cheoreo do hai anh em ông "Chu và Chreo bắt đầu tổ chức được một liên minh các làng Chor với một bộ máy hành chính thường xuyên tương ứng với đơn vị cao hơn làng".

 

II - ĐẶT TÊN VÀ Ư NGHĨA ĐỊA DANH NƠI NGƯỜI DÂN TỘC.

 

Học hỏi địa danh nhất là tại vùng dân tộc lại không t́m hiểu một vài nền tảng và ư nghĩa việc đặt tên làng vẫn chưa đầy đủ. Chúng tôi xin chuyển qua vấn đề đặt tên và ư nghĩa địa danh, trước khi đi sâu hơn yếu tố nào địa danh KONTUM có một chỗ đứng cho đến những năm gần đây.  

Thật vậy, đối với người dân tộc Tây Nguyên, việc đặt tên làng rất quan trọng, v́ nó nối kết với thế giới yang, hồn; nói cách khác với thế giới  "iôn tâu" (bên kia) như người Rơngao thường nói. Chúng ta điểm qua một số nền tảng, tiêu chuẩn đặt tên buôn làng trước khi chúng ta đi sâu vào sự h́nh thành địa danh KONTUM.

 

A - Nền tảng việc đặt tên - ư nghĩa của địa danh buôn làng  nơi người dân tộc nói riêng.

 

1. Nhưng nguyên tắc, nền tảng để đặt tên buôn làng.

 

Đối với người kinh, thường thường chúng ta dựa trên ư niệm về cái đẹp, cái đức, cái phong nhiêu .. . nói chung là một ư niệm trừu tượng, một ước mơ  hoặc danh xưng của một nhân vật có công để đặt tên cho làng : Tân Hương (nơi sinh sống mới); Phương Nghĩa ( nơi, quê hương có ḷng nhân ái; Phương Ḥa (nơi đoàn kết thuận ư nhau), Phương Quư, Phú Bổn . . . . Trái lại, người dân tộc cư dân tại Tây Nguyên không có từ trừu tượng siêu h́nh, mà họ quan tâm đặc biệt những vật thể hoặc con người gắn chặt với cuộc sống cụ thể như  đồ vật, đất đá, sông suối ao hồ, núi rừng núi . . . bao quanh họ để đặt tên cho buôn làng thân yêu của họ. Nhưng tất cả có một yếu tố căn bản là mối tương quan với thế giới bên kia,  với yang.

Để hiểu phần nào về vấn đề nối kết  giữa thế giới nầy với thế giới bên kia, chúng tôi xin ghi lại vài đoạn của linh mục  J. Kemlin trong sách " Les songes et leur interprétation" chez les Reungao,  Hànội năm 1910, trang 17 như sau:

"Iôn kô" hay "iôn tau" là "từ bên nầy" cũng như "từ bên kia" mà chính hồn thấy, và hành động trực tiếp hoặc gián tiếp qua thân xác. Như vậy có những lư do để tin vào hiện thực của giấc chiêm bao của chúng ta, cũng như có những lư do để tin vào tính khách quan của điều ta thấy, nghe và hành động trong trạng thái thức vậy ( . . . ) "

" ( . . .) Tuy nhiên, chúng ta cũng lưu ư là nền tảng của ḷng tin nầy c̣n sâu xa hơn, và được đặt trên quan niệm 'lấy cái tôi làm chuẩn', mà người thượng gán cho vũ trụ. Khi thấy vô số sự bất b́nh đẳng và những chuyện kỳ quặc của thiên nhiên làm cho họ giải thích nổi, tự nhiên họ đâm ra tưởng tượng nguyên nhân của chúng nằm trong biện chứng nội tại nơi từng sự vật, một sự xung đột biến đổi từng ngày và từng hoàn cảnh, như tính khí của người vậy. Nói tắt, họ đă thấy trong mọi vật thể một chủ thể được sinh động như họ và có cùng đam mê như họ".

Nói cách khác, tất cả mọi vật đều có nguyên lư sống động và tác động đối với thế giới con người. Cái nguyên lư đó là "hồn" được người Rơngao gọi là "mơhol", người Bana gọi là "pơhngol" hay "pơngol", người  Sơđang dơdrah gọi là "mơhua" và người Jrai gọi là "mơngăt". Sức lực của nguyên lư sống động  đó được gọi là "ai". "AI" của con người có tác động ảnh hưởng trên con vật và đồ vật, và ngược lại. "Ai " của con vật hoặc  đồ vật hợp với "ai" của người nào đó, mọi sự đều tốt đẹp; mà ngược lại sẽ đổ vỡ, bất thành,  là không ích lợi. Với quan niệm đó, việc đặt tên buôn làng rất quan trọng để cho có sự  ḥa hợp giữa các "ai" với nhau, nghĩa là giữa các hồn với nhau.

Mặt khác, cũng theo quan niệm của người dân tộc, một người giàu có, một người tài giỏi, một người đứng đầu, một thủ lănh, ông vua chẳng những có một "mơhol" chính, mà c̣n nhiều "mơhol" phụ, tự như đoàn quân ǵn giữ nhà cửa tài sản. Hồn của họ sau khi ra khỏi thân xác có thể thành một loại thần, dân làng có thể kêu khấn, trong khi đó, hồn của thứ dân xuống "mang lung" (Âm ti).  Do đó, người dân tộc thường đặt tên làng theo tên người lập làng cũng là việc thích hợp và hữu ích để "ai" của ông giúp dân làng do ông đă vất vả xây dựng.

Ngoài ra, nơi sông suối ao hồ, núi rừng, cây cối và cả đất đá . . . cũng có thể có yang trú  ngụ. Cần cúng cho các yang để  các yang  tốt  giúp đỡ cho dân làng hoặc để vô hiệu các yang xấu. V́ thế, cần một kết  giao  với các yang để ta được bảo hộ sống an vui hạnh phúc [1]. Do quan niệm đó, người dân tộc thường dùng tên sông, suối, ao hồ nơi họ sinh sống để đặt cho tên làng.

 

2. Phân loại các địa danh buôn làng theo một số tiêu chuẩn cụ thể.

 

Đặt tên làng  thêm tên chủ làng, nói đúng hơn là gọi tên con của chủ làng, ví dụ: làng của cha (hoặc mẹ) thằng (ông, bà ...): Bon ama Djơng (làng của cha ông Djơng); Bon ama H'Nher (làng của cha bà H'Nher); Bon mi Hoanh (làng của mẹ ông Hoanh); Bon mi (mê) Thuột (làng của mẹ ông Thuột).

 

Đặt tên làng theo tên chủ làng và được xác định rơ hơn bằng vùng đất đó như thế nào.  Bon Rưng ma Rin (làng có đất sỏi đá của cha ông Rin); Plei Rơngol ama Drung (làng cũ của  cha ông Drung).

 

Tên làng theo phương hướng vùng đất: Pleiku ( làng đuôi) (có dịp sẽ bàn thêm về ư nghĩa); Pleiku Roh (làng ngoài b́a); Pleiku Ngo ( làng phía bắc)

 

+Tên làng theo thổ sản: Đa số dân làng người dân tộc sống với 2/3, nếu không nói là đa phần bằng thổ sản của rừng núi và họ đặt tên làng theo thổ sản  đặc chủng đó: Dak Sut (làng có nhiều mật ong); Kon Tơneh (làng có nhiều mây); Kon Xơmluh (làng có nhiều cây như cây le); Kon Klor (làng có nhiều cây gạo). Plei Kơbei ( làng có nhiều trâu rừng). Plơi Pa Ơi Briu cũng gọi là Plơi chroh Tơnung (làng hồ có loại cây Tơnung)

 

+ Tên làng dựa vào loại đất, đá: Plei Kly (  Plei Tơly : làng có nhiều đá ).

 

+ Dựa vào sông suối, núi rừng: Bon chroh Kơnong (làng suối Kơnong); Đak Tô (làng có suối nước nóng); Dak Tơkan (làng sông Tơkan); Plei Athai (làng ở núi Chư Athai), KONTUM (làng  có hồ, làng hồ).

 

B.H̀NH THÀNH ĐỊA DANH KONTUM.

 

1.  Theo nguyên ngữ KONTUM: KON : làng; TUM: là hồ; KONTUM là LÀNG HỒ.

 

2. Tuy nhiên, tầm nguyên địa danh KONTUM theo khía cạnh chuyển hóa như thế nào trong lịch sử của nó không phải là việc đơn giản, nhất là địa danh mang nhiều khía cạnh thời cuộc như địa danh KONTUM.

 

Thật vậy, khi các vị thừa sai đặt chân đến làng Breng, sau được đổi là Rơhai (nay là Tân Hương) vào những năm 1851-1852 chưa có làng Kontum. Khi đặt xong cơ sở ở Rơhai, Cha Do nghĩ ngay cần tạo lập các nông trường để tự cung cấp, đồng thời là môi trường định canh định cư để nâng cao đời sống dân sinh, văn minh cho các anh em người dân tộc bản địa, trước mắt cho những người dân tộc mới ṭng giáo và như tiền để cho các làng dân tộc khác noi theo. Ngài lần lượt mở ra các nông trường như Dak Kâm và vùng đất DAK TUM phía đông Rơhai. Ngoài ra, cha  nới rộng phạm vi hoạt động truyền giáo nên thầy Thám, em ruột của Cha và thầy Lai đưa người nhà cũng như một số bị nô lệ được chuộc  lại đến phát  rẫy bên bờ hồ DAK TUM nầy, cách Rơhai hơn 1 cây số về hướng đông. Gần  đó có làng nhỏ người dân tộc, gọi là làng MÔER, do 2 anh em  JRÔNG và UÔNG con bà Yă Xi cầm đầu. Gia đ́nh nầy nguyên trước đó ở làng KONTRANG-ÔR trên bờ sông BLA, hiện giờ là CHUAH-ORENG, mà người kinh gọi là CHẢ-RENG, dưới chân núi Chư Reng (CHƯ được người B́nh Định đọc thành CHẢ). Kontrang Ôr khá lớn do các ông Mung, Bung và Loih lănh đạo. Nhưng người nầy tính khí hung tợn, tàn bạo thường khiêu  chiến với  bên ngoài và hà hiếp dân làng. Do đó, hai ông Jrông và Uông t́m cách ra khỏi làng và đến lập  làng Môer nơi hồ Dak-Tum.

 

Khi cơ sở do thầy Thám xây dựng bên  bờ hồ Dak-Tum đă h́nh thành, có nhà ở, có  rẫy lúa, có dân cư, cha Ḥa từ  cùng người Pnong (cũng gọi là Mnong vùng Dak-Lak ngày nay), v́ không thể tiếp tục ở Trung tâm Truyền giáo Pnong, đă dẫn một số gia đ́nh người Pnong thật sự ṭng giáo và người giúp kẻ ăn người ở cũng như một số  thầy giảng về Trung Tâm Truyền Giáo Rơhai. Cha Bề Trên phái cha Ḥa làm phó Cha Do, phụ trách khu vực mới khai khẩn  Dak-Tum nầy vào năm 1856.

 

Cha Ḥa rất được đồng bào kinh và dân tộc mến phục. Làng Môer về ở với cha. Dần dần làng Kontrang-Ôr không chịu được thái độ hung hăn của các tên đầu sỏ trong làng, cũng kéo về sáp nhập xóm Dak-Tum của cha, thành một làng lớn. Từ đó, Dak-Tum được đổi thành làng KONTUM cho đến ngày nay.

 

III - NHỮNG YẾU TỐ CẤU TẠO LÀM CHO ĐỊA DANH KONTUM TRỞ NÊN QUAN TRỌNG TOÀN VÙNG TRUYỀN GIÁO.

 

Như tŕnh bày trong phần I, trong những thế kỷ trước, ngay  cả thế kỷ XIX có những vũng quan trọng như Ayonapar của 2 vị Vua Lửa, vua Nước, An Sơn (An Khê ngày nay). Ngay trong cùng khu vực truyền giáo, làng Rơhai vào những năm khi lập vùng truyền giáo cho người dân tộc Bana (1851-1888) vẫn có tầm mức trỗi vượt hơn làng Kontum nhỏ bé. Vậy đâu là những nhân tố biến làng Kontum dần dần chiếm lĩnh vai tṛ chủ đạo cả vùng  truyền giáo các dân tộc Tây Nguyên ? Để có  một tầm nh́n tổng hợp, chung tôi xin lần lượt tŕnh bày Trung Tâm Truyền Giáo cho người Bana-Rơngao, đó là RƠHAI và sau đó tŕnh bày một số gốc cạnh khả dĩ thay đổi từ một làng KONTUM nhỏ bé trở thành một  địa danh quan trong toàn vùng Truyền giáo, ngay cả mặt xă hội chính trị cho đến thời cận đại.

 

A - Trung Tâm Truyền Giáo RƠHAI cho người Bana-Rơngao:

 

I/ Trung Tâm Truyền giáo RƠHAI nầy kinh qua nhiều giai đoạn:

 

1.Giai đoạn nguyên sơ (1851 -1871)

 

Trong  giai đoạn đầu công cuộc truyền giao tại vùng người dân tộc Bana-Rơngao, RƠHAI có một tầm mức quan trọng. Khi các vị thừa sai t́m ra được vùng đất bằng, rộng bên hữu ngạn sông Dak-Bla, như Đức  Cha Cuênot Thể, Đại Diện Tông Ṭa Đông Đàng Trong đă lưu ư các ngài trước, các ngài t́m mua một nhà gỗ của người dân tộc tại làng BRENG. Cha Desgouts và thầy sáu DO  (linh mục 1853-1871 ) nhận thấy dân làng Breng vốn dân tứ chiếng, mê tín dị đoan, nhiều tật xấu, nên quyết  định lập một làng mới, gần đó, gọi là RƠHAI gồm vài người kinh, là người nhà của cha và vài người dân tộc.

Trong khi thầy sáu DO về G̣ Thị (B́nh Bịnh) chuẩn bị thụ phong linh mục (từ 1852)  đến khi tân linh mục trở về vùng Bana (thụ phong linh mục tháng 07 năm 1853), cha Desgouts đảm trách mục vụ và chuẩn bị xây dựng cơ sở cho chủng viện tương lai. Khi cha DO lên vùng Truyền giáo với tư cách linh mục, ngài xúc tiến tạo lập thôn làng trong hướng "định canh định cư", nên tổ chức nông trường đầu tiên Rơhai nầy. Mùa lúa thu hoạch khấm khá, đời sống xă hội, tôn giáo tương đối ổn định. Do đó, dần dần dân làng khác đến xin nhập làng để sinh  sống. Trong thời gian nầy, các cha cũng có chuộc lại một số người kinh bị người dân tộc bắt bán làm nô lệ [1] và ngay cả người dân tộc bị làm nô lệ cũng được chuộc về, dạy họ làm ruộng rẫy bằng phương pháp hiệu quả hơn là chọt trỉa kiểu du canh du cư.

    Cho nên trong giai đoạn đầu (vào những năm 1851-1871), về địa bàn dân cư, RƠHAI  gồm:

 

+ Khu vực nhà thờ và nhà xứ Tân Hương hiện nay;

+ Khu vực Trường Têrêxa và hội  trường Bok DO (nay là trường và nhà văn hóa);

+ Phía nam giáp sông Dak-Bla;

+ Phía bắc giáp đường Ngô Quyền.

 

2.Giai đoạn hai (từ năm 1871-1912).

 

Bắt đầu có nhiều người kinh, Rơhai nới rộng ra gọi là XÓM MỚI. Những người kinh nầy chủ yếu là những người trốn tránh các cuộc bắt hại đạo tại địa phận Đông Đàng Trong (sau được gọi là Quinhơn vào năm 1824), như một số gia đ́nh thuộc họ Đồng Hâu, Đồng Quả qua ngă Ngăi Điền, rồi vượt qua Trạm G̣ ( Cửu An, đông bắc An Khê ngày nay), mon theo đường các cha đi trước đến Rơhai hoặc sau nầy do nạn Văn Thân tàn sát vào năm 1885. Vào năm 1873, số người kinh sinh sống tại đây là 542 người, thành lập họ đạo và được gọi là Trại Lư. Và vào năm 1909), Cha Bề Trên Truyền đặt cho một tên  khác theo thổ sản là G̉ MÍT.

 

 3. Giai đoạn ba (1912 -  1932).

 

Giai đoàn nầy, vùng đất dân cư họ Rơhai nới rộng thêm từ nhà thờ chạy giáp làng Phương Nghĩa ( Họ Phương Nghĩa h́nh thành dần dần từ 1870-1880); nam giáp làng Kon Hơra, bắc giáp đường Trần hưng Đạo đầu trên và  Nguyễn đ́nh Chiểu phía đầu dưới. Từ nhà thờ Tân Hương đến giáp Phương Nghĩa gọi là Xóm Trên thuộc  Giáo xứ Tân Hương.

 

4.Giai đoạn bốn (từ năm 1932-1947)

 

Làng dân tộc Rơhai bên nầy sông phải dời sang bên kia sông (tả ngạn sông Dak-Bla, chỗ hiện tại) vào năm 1931. Làng Dơnơng sáp nhập với Plei Tơngia, phải để cho Tiểu đoàn Sơn Cước BT MSA do quân đội Pháp thành lập chiếm trọn khu vực nằm phía tây đường Trần Phú. Phía đông đường Trần Phú giao  trực thuộc cho địa sở Tân Hương để thiết lập cơ sở văn hóa giáo dục.

 

5. Giai đoạn năm ( 1947-1975).

 

Theo đà tiến của địa phương, đồng bào công giáo kinh cư ngụ khắp nơi trong thị xă, thuộc giáo xứ Tân Hương (chính thức đặt tên Tân Hương vào năm 1926) và  giai đoạn nầy giáo xứ không c̣n giới hạn trong phạm vi "Xóm Dưới" "Xóm Trên " nữa, mà đă bao trùm cả Trung Lương, Lương Khế, Vơ Lâm. Tuy nhiên, về phương diện hành chánh ranh giới của làng Tân Hương không thay đổi.

 

6. Giai đoạn sáu (1975 - 2000).

 

Sau biến cố tháng 3 năm 1975, vùng đất thuộc giáo xứ Tân Hương quản lư phải thu hẹp lại  như hiện trang hôm nay.

 

II/ . Về cơ sở.

 

Tân Hương có nhà thờ.

 

Vào năm 1853, cha Do từ khi lên lại Rơhai bắt tay xây dựng một nhà thờ theo dáng nhà dân tộc cũng khá rộng răi và đẹp mắt.

Năm 1858, nhà thờ nầy bị hỏa hoạn vào dịp Giáng sinh. Năm 1860, với sự đóng góp của các gia đ́nh công giáo,  một nhà thờ thứ hai hoàn thành, không đẹp, có tính cách tạm bợ.

 

Năm 1869, chương tŕnh xây cất nhà thờ lớn, có tính cách kiên cố được khởi công. Toàn thể gia đ́nh công giáo kinh cũng như dân tộc góp công sức  t́m cách danh mộc, đốn và chuyển về, thuê thợ giỏi về xây dựng. Năm 1871, nhà thờ mới được dựng lên: rui mè lợp xong,  ván chưa lót, cửa chưa dựng, vách chưa trét chưa tô. Năm 1872, v́ tuổi già, cha Do về dưỡng bệnh và qua đời sau đó tại Đồng Hâu, quê nhà. Cha Hugon (cha Xuân) thay cho Do. Cũng trong năm đó (1872) giặc Kon Kơban xuống đánh Rơhai, cướp phá, nên măi đến năm 1876, nhà thờ mới hoàn thành.

 

Năm 1902, cha Ngự (cha Demeure) hạ nhà thờ nầy để làm lại nhà thờ mới. Nhà thờ nầy chính là nhà thờ hiện nay, chưa có mặt tiền. Năm 1916, nhà thờ được tu sửa lần thứ nhất đời cha Hiền (Cha Alberty); tu sửa lần hai vào năm 1926 : mặt tiền xây bằng gạch giữ nguyên trạng cho đến nay. Mới đây có tu sửa nhỏ để tránh mục nát mặt tiền, và gia cố phần chân đế các trụ nhà . . .  nhưng vẫn giữ  nguyên cấu trú và dáng dấp như xưa.

 

Ngoài ngôi thánh đường cổ kính và được xây dựng nhiều đợt, Tân Hương cũng là nơi được đầu tư nhiều cơ sở văn hóa của vùng Truyền giáo như dự định của Đức Cha Cuênot Thể thiết lập chủng viện trên vùng cao được giao cho cha Desgouts cũng như vào năm 1900 có tổ chức các lớp dạy học văn hóa, xóa nạn mù chữ cho giới thanh niên nam nữ người dân tộc. Năm 1931, cha Alberty Hiền  xây cất trường Têrêxa bên hông phía tây nhà thờ  giao cho  các nữ tu Mến Thánh Giá G̣ Thị điều khiển. Ít năm sau, vào năm 1940, trường được giao lại cho Ḍng Bác Ái Vinh Sơn phụ trách dành cho nữ sinh, và sau đó, cha sở cho mở thêm một trường cho nam sinh.

 

B - Địa danh "KONTUM" với những nhân tố  đặc thù.

 

Nh́n chung, từ nhân sự, cơ sở tôn giáo - chưa kể cơ sở hành chính dân sự, sinh hoạt kinh tế từ các năm cuối thế kỷ XIX đến nay đều nằm trong cùng địa bàn dân cư  là Trung Tâm Truyền giáo RƠHAI - sau nầy đổi thành là Tân Hương-  phát triển mạnh cũng có nhiều ưu thế về các mặt tôn giáo lẫn dân sự như vừa tŕnh bày trên. Nhưng v́ những nguyên nhân nào, làng Kontum từ một nông trường, lúc khai lập c̣n lệ thuộc vào Rơhai về khía cạnh tôn giáo, xa khu vực hành chánh và kinh tế  dần dần đă trở nên quan trọng, đến nỗi sau nầy nó trở nên một địa danh quan trọng nhất của toàn vùng xét khía cạnh tôn giáo và hành chính dân sự ?  Đâu là những yếu tố cấu tạo nên truyền thống vững chắc để địa danh " KONTUM" c̣n sống măi và như trở nên một huyền thoại mang một sức sống nội tại cho cả vùng Truyền giáo Tây Nguyên, đến nỗi ngày  nay vẫn c̣n sức thuyết phục làm say mê cho nhiều nhà nghiên cứu chân chính trong cũng như ngoài nước? Chúng tôi xin tŕnh bày trong phần sau đây.

 

I/ GIAI ĐOẠN 1851-1908.

 

Họ đạo KONTUM khởi đầu nhỏ bé, chỉ là nông trại sản xuất nông sản và là một họ nhánh của Trung Tâm Truyền giáo  Rơhai. Tuy nhiên, họ đạo Kontum cũng có những yếu tố địa  lư, con người và tôn giáo làm cho nó dần dần chiếm giữ vai tṛ chủ đạo toàn miền  truyền giáo.

 

1. Giai đoạn 1851-1882.

 

+ Vùng đất - địa lư.

 

Xét về phương diện vùng đất, làng Kontum mới được khai hoang, đất rộng, màu mỡ thuận lợi cho canh tác như bằng, có nhiều nước, không bị úng . . .  khả dĩ tự cung tự cầu cho họ đạo. Ngoài ra, địa bàn nông trại Kontum có nhiều mặt bằng thuận tiện để xây dựng các cơ sở cần thiết cho toàn vùng Truyền Giáo sau nầy như chủng viện, Ṭa Giám mục, các ḍng tu, cơ sở giáo dục . . . cấp  địa phận. vả lại, vũng đất nầy có triển vọng mở rộng an toàn đón nhận số anh em dân tộc từ  phía Đông  và Đông bắc của Trung Tâm Truyền giáo Rơhai.

 

+ Mặt an ninh. Vùng đất làng Kontum nhờ có sông Dak-Bla bao quanh phía đông và đông bắc, tránh được những vụ cướp bóc như Rơhai đă bị vào năm 1876.

 

+ Yếu tố con người linh mục : Cha H̉A.

 

Yếu tố con người rất quan trọng để định vị cho làng Kontum sau nầy. Đó là vai tṛ của các linh mục phụ trách họ đạo nầy : trước hết là cha Ḥa, sau đó là vai tṛ quốc tế của cha Bề Trên Cha Vialleton Truyền, Đại Diện Giám Quản Tông Ṭa Đông Đàng Trong (1882-1909).

 

Thật vậy, trong suốt thời gian 1856 - 1861, Cha Ḥa, một linh mục bản xứ được mọi người mến phục, đă xây dựng thành công một làng đoàn kết, một họ đạo có  truyền thống, nề  nếp và sốt sắng. Cha tạo lập được một cộng đoàn tín hữu người dân tộc từ năm đầu tiên (1856) khi đặt trên đất Rơhai, đó là số người dân tộc Pnong theo ngài về vùng Truyền Giáo Bana-Rơngao. Trong khi đó, người dân tộc làng Rơhai măi đến năm 1875  mới ṭng giáo. Số giáo dân kinh tại Kontum được h́nh thành lâu bắt đầu từ 1870, trong khi đó họ đạo người kinh tại Trung Tâm Truyền Giáo Rơhai h́nh thành vào năm 1874 với tên là TRẠI LƯ [1] (Tân Hương ngày nay). Nói cách khác, cộng đoàn dân tộc và người kinh tại họ Kontum ṭng giáo và h́nh thành sớm hơn và nề nếp hơn Trung Tâm Truyền giáo Rơhai. Có thể đưa ra một số lư do như sau : một mặt người dân tộc tại Trung Tâm Rơhai thuộc nhiều thành phần đến, nhất làng bị ảnh hưởng dân làng Breng tứ chiếng, ô tạp, mê tín dị đoan sống bên cạnh và cũng chính v́  lư do đó Cha DO đă tạo lập một làng mới gọi là RƠHAI bên cạnh làng Breng nầy ; c̣n người kinh phần lớn phải khai khẩn vùng nông trại Dak-Kâm. Trong khi đó tại họ Kontum vào giai đoạn mới tạo lập được cha Ḥa trực tiếp hướng dẫn cùng làm cùng sinh hoạt với anh em người dân tộc cũng như người kinh.

 

Giai đoạn 1861-1888 : Sau khi cha Ḥa lâm bịnh nặng, thuyên chuyển về Ninh Ḥa và qua đời (1861), họ đạo Kontum trực thuộc trở lại Trung Tâm Truyền giáo Rơhai cho đến năm 1882, năm Cha Vialleton Truyền đến đảm trách họ đạo nầy. Nhưng nhờ tổ chức cũng như tinh thần đoàn kết  của người dân tộc sẵn có, nhất là nhờ  vị mục tử mới - Cha Vialleton Truyền - trực tiếp đặc trách họ đạo Kontum phải giải quyết cách khôn ngoan và kiên quyết những vấn đề của cả vùng Truyền giáo mà họ đạo nhỏ bé nầy vẫn vững tiến dù phải trải qua một giai đoạn cực kỳ khó khăn chung cả vùng truyền giáo.

 

Có thể nói trong giai đoạn nầy, hay chính xác hơn  giai đoạn từ năm 1850 - 1888 là giai đoạn anh hùng của Hội Truyền giáo vùng dân tộc. Người ta không thể hiểu nổi những vất vả, cực nhọc của các vị thừa sai như thế nào. Chỉ có Chúa mới thấu suốt những vất vả, ê chề của của các ngài. Trong số 17 vị thừa sai Pháp và 5 vị thừa sai Việt nam, 15 vị đă ngă gục mà thành quả không hơn 1000 người ṭng giáo. Cuộc truyền giáo như giẫm chân tại chỗ. Tuy nhiên, trong giai đoạn như bị cô lập hoàn toàn trong vùng rừng núi, thiếu hụt mọi thứ, nhất là thời gian phong trào Văn Thân (1885) tàn sát tại Trung Châu và An Khê, các ngài đứng vững và đón nhận các tín hữu kinh thoát thân khỏi cảnh tàn sát chạy lên tá túc vùng Truyền giáo tại làng Kon Jơdreh, nhất là tại làng Kontum của Cha Vialleton. Làng Kontum, họ đạo Kontum nghĩa hiệp, rộng hai cánh tay đón nhận các anh em tín hữu kinh  bị bắt bớ tại quê hương ḿnh lên ẩn nấu chờ ngày hồi hương. Chẳng những làng Kontum mà c̣n nhiều cụm dân cư người kinh h́nh thành dần đông thêm anh em người kinh và tạo  lập thành làng PHƯƠNG NGHĨA (từ năm 1870-1880), Trại Lư (vào năm 1874), Ngô Trang (1885) và những năm  sau nầy như Phương Ḥa (1903), Quư Phương ( 1904), Ruộng Lào (1933) . . . Vấn đề người kinh lên lập nghiệp sinh sống tại dăy Trường Sơn giai đoạn đầu chỉ là vấn đề giải quyết t́nh thế cho một số người bị bắt làm nô lệ hoặc phải chạy nạn bắt đạo, nhưng dần dần  nhiều vấn đề liên quan đến mục vụ và xă hội cũng như  trong khung cảnh chính trị đă nảy sinh nhiều  khía cạnh cần được các vị Bề Trên phải giải quyết.

 

2.Vai tṛ của Cha Bề Trên VIALLETON TRUYỀN (1888-1908): Thời kỳ tốt đẹp.

 

a- Trong ṿng 15 năm, hàng ngh́n người dân tộc xin ṭng giáo. Trước đó, các vị thừa sai quanh quẩn vùng Bana, nay ra đi đến mọi hướng. Đây là giai đoạn dưới quyền Bề Trên là Cha Vialleton Truyền (1881-1909) , đại diện Giám Quản Tông Ṭa Đông Đàng Trong. Vùng truyền giáo Tây Nguyên phát triển mọi mặt: diện cũng như chiều sâu. Uy tín của Cha Bề Trên Vialleton vang dội ra khỏi vùng dân tộc, lan rộng khắp đất nước Việt nam. Do đó, địa danh  KONTUM, nơi Cha  Bề Trên phụ trách, trước đây là một làng, một họ đạo rất nhỏ bé, nhờ vai tṛ của Ngài được mọi người biết đến, qua những giao dịch thư từ, cũng như văn kiện tôn giáo và xă hội, chưa nói những lần tiếp xúc của các quan chức đạo đời. Và như thế địa danh Kontum c̣n đồng nghĩa Vùng Truyền Giáo cho người dân tộc dù cũng c̣n mơ hồ theo  giới hạn địa lư  cho nhiều người.

 

b - Mặt khác, cũng trong thời gian nầy, t́nh h́nh an ninh vững chắc hơn cho cả vùng. Vai tṛ  của các vị thừa sai nói chung, vai tṛ của cha Bề Trên nói riêng trong việc thống lĩnh được t́nh trạng vô chính phủ trước đây, là điều không thể chối căi. Nên, địa danh Kontum chẳng những chỉ một điểm truyền giáo nhỏ bé, mà là biểu tượng cho cả vùng truyền giáo rộng lớn. Trong Annales MEP năm 1912, số 89 trang 289 có ghi:

 

"Mười năm trước đây, Kontum chỉ là một làng rất nhỏ bé, nhưng dưới sự thúc bách của Vị thừa sai của ḿnh, nó đă trở nên  to lớn nhiều và trở nên một vùng tuyệt đẹp cho các tín hữu".

 

Ḥa ước giữa  chế độ  thực dân Pháp và triều đ́nh phong kiến Huế vào năm 1874, cũng như ḥa ước ngày 28 tháng 8 năm 1883, buộc Triều đ́nh phong kiến ủy cho người Pháp trấn giữ biên giới Việt nam, nhưng miền Cao Nguyên Trường Sơn vẫn là nơi tranh chấp giữa chính phủ Pháp và Thái Lan. V́ t́nh thế đó, sự hiện diện của Thầy Sáu Do, biệt danh thân thương của Cha Phanxicô Xavie Nguyễn Do, nhờ liên minh vững chắc các làng người dân tộc Bana và Sơđang, đặc biệt uy tín của các  vị thừa sai, nhất là  uy thế trỗi vượt của Vị Bề Trên Vialleton Truyền trong vùng đất được các ngài  đă đổ bao mồ hôi nước mắt để vun trồng Tin Mừng đều cần thiết và có tính quyết định giành lại phần thắng thế cho Việt-nam trong tranh chấp nầy. Trong bối cảnh lịch sử đó, lá thơ của quan Toàn Quyền Lào gởi cho Vị Bề Trên Vialleton Truyền, như  minh nhiên công nhận vai tṛ trổi vượt toàn vùng của địa danh  KONTUM về mặt hành chính từ năm 1898 .

 

c - Do đó,  ít nhất vào hạ bán thế kỷ XIX (07/ 03/ 1898)  như công văn được Cha Guerlach trích dẫn trong tài liệu " L ' Oeuvre néfaste" cho biết địa danh  KONTUM không chỉ là một họ đạo mà c̣n có ư nghĩa hành chánh cho cả vùng truyền giáo của các Vị thừa sai. Tuy nhiên cho đến lúc đó ranh giới vùng KONTUM theo mặt hành chánh chưa rơ ràng cũng như  vùng truyền giáo KONTUM  c̣n nằm phía trước, có phần mơ hồ v́ quá bao la gồm cả vùng Tây Nguyên, vùng Hạ Lào và cả vùng giáp ranh bắc Campuchia.

 

3 - Địa giới Kontum theo khía cạnh hành chính từ 1898 - 2000.

 

Do những khía cạnh vừa tŕnh bày trên, để minh định ranh giới vùng KONTUM mặt hành chánh, chúng ta tŕnh bày KONTUM tương quan với các đơn vị hành chánh như Daklak và Pleiku từ cuối thế kỷ XIX  đến nay như thế nào ?.

KONTUM:

 

Năm 1898 : Người Pháp đặt Ṭa Đại lư hành chính tại Kontum và ủy nhiệm cho linh mục Vialleton Truyền là đại lư.

 

Năm 1905 : ngày 13/7 : thành lập tỉnh Pleiku-Der (bao gồm Kontum) tách khỏi Lào.

 

Năm 1907: ngày 02/05 : sáp nhập tỉnh  Pleiku-Der vào Quinhơn. Ngày 12/07 : Pháp lại chia tỉnh nầy thành hai Đại lư: Đại lư Kontum trực thuộc phủ Toàn quyền Quinhơn;  đại lư Cheoreo thuộc  Sông Cầu (Phú yên). Ngày 27/10 : Guenot đến Kontum và làm đại lư  Kontum. Ṭa Đại lư sau đổi thành ṭa Công Sứ Kontum.

 

Năm 1911: Sabatier đến Kontum giữ vai tṛ công sứ thay Guenot.

 

Năm 1913: Vào ngày 09/02 : Toàn quyền Đông Dương lại thành lập lại tỉnh Pleiku-Der, lấy tên là tỉnh Kontum. Tỉnh Kontum bao gồm cả phần đất Gialai, Kontum và ĐắcLắc hiện tại.


Năm  1917. Ngày 14/02: vua Khải Định ban chỉ dụ được Quan Toàn Quyền Đông Dương chuẩn y ngày 28/03/1917 đem các tổng Tân Phong, An Khê thuộc tỉnh B́nh Định sát nhập vào tỉnh Kontum. Ngày 14/11 : Toàn Quyền Đông Dương lập Đại lư hành chính An Khê thuộc quyền công sứ tỉnh Kontum, gồm cả hai khu vực huyện Tân An va khu vực người dân tộc thiểu số.

 

Năm 1923. Ngày 02/07: Toàn Quyền Đông Dương lại lập lại  tỉnh mới Đắc-Lắc.

Năm 1925. Ngày 24/5: Toàn Quyền Đông Dương lập lại  đại lư hành chính ở Pleiku, thuộc tỉnh Kontum.

Năm 1929. Ngày 03/02, Toàn Quyền Đông Dương lập lại hai thị xă Kontum và Pleiku..

Năm 1932. Ngày 24/05: Toàn Quyền Đông Dương lại tách một phần đất phía nam tỉnh Kontum để lập tỉnh Pleiku. Địa giới các huyện Mang Yang, K'Bang, An Khê, Kon Chro hiện tại vẫn thuộc tỉnh Kontum. Ṭa Đại lư hành chính của Pleiku cũng được đổi thành Ṭa Công sứ

Năm 1943. Ngày 09/08, vùng An Khê tức là các huyện phía đông hiện tại của tỉnh Gialai được sát nhập về Pleiku.

Năm 1949. Thực dân Pháp trao trả độc lập cho Bảo Đại

Năm 1950. Ngày 15/04: Bảo Đại kư đạo dụ số 6 đặt các tỉnh và các miền thượng du Nam và Bắc trực tiếp thuộc quyền Quốc Trưởng Bảo Đại. : Thiết lập Hoàng Triều Cương Thổ, trực thuộc Quyền Quốc Trưởng Bảo Đại. Băi bỏ Ṭa Ủy Viên Pháp. Ngày 25/07, chính quyền Bảo Đại kư sắc lệnh số 3 đặt các tỉnh Đắc Lắc, Đồng Nai Thượng, Lâm Viên, Pleiku và Kontum thành địa phận hành chính riêng biệt gọi là Cao Nguyên miền Nam thuộc Hoàng Triều cương thổ dưới quyền một ủy viên Đức Quốc Trưởng, và đặt dưới quyền ṭa Khâm  mạng do một vị Khâm mạng quyền hành như một Quốc vụ khanh trông coi.

Năm 1954. Ngô đ́nh Diệm yêu cầu Quốc Trưởng Bảo Đại hủy bỏ Hoàng Triều cương thổ.

Năm 1955. Ngày 11/3 Quốc Trưởng Bào Đại đă phê chuẩn dụ số 21, sát nhập các vùng cao nguyên vào lănh thổ của quốc gia Việt Nam

Năm 1962. Ngày 1/ 9, chính quyền Sàig̣n lập tỉnh Phú Bổn, đặt tỉnh lỵ tại Cheoreo mang tên  mới là thị xă Hậu Bổn.

Năm 1975, ba tỉnh : Pleiku, Kontum và Phú Bổn (trừ huyện Thuần Mẫn) nhập thành tỉnh Gailai-Kontum.

Năm 1991. Tháng 10, KONTUM lấy lại vai tṛ cổ kính của nó trước kia : tái lập lại tỉnh KONTUM như xưa.

Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam- Đànẵng (142 km).

Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngăi (74km).

Phía Tây giáp Lào, Campuchia (275 km)

Phía Nam giáp tỉnh Gialai (203 km)


Năm 1996. Tính đến cuối năm, Kontum:

*   diện tích : 9661,71 km2

Diện Tích: km2

Dân số

Kinh

Dân Tộc

Đơn vị hành chánh

9661,70

290.001

138.560

151.441

* Tx. Kontum(424,2Km2)

*Huyện:SaThầy (2.441,9km2)-KonPlong (2.248,2 km2).

Đăk Hà (843,6 km2) - ĐakTô (1.377,4 km2) Ngọc Hồi (823,9 km2) - Đăk Glei (1.532,5km2).

 * Dân số :  290.001  người gồm:

Tổng

Kinh

Jrai

Bana

Sơđang

các dân tộc khác

290.001

138.560

14.779

32.356

70.518

33.788

 

Đó là một số diễn biến lịch sử địa danh KONTUM theo khía cạnh hành chính qua nhiều chế độ.  Nhưng dù trải qua  "một cuộc bể  dâu" như thế nào đi  nữa, KONTUM vẫn giữ được giá trị trường tồn của nó : giá trị tinh thần và tôn giáo Kitô giáo.

 

II-KONTUM , một địa danh mang tính dân tộc và  Kitô giáo.

 

1.  Giai đoạn 1888 -1908

 

KONTUM  bị đun bên nầy, đẩy bên kia, có lúc bị mất hút trong một vài vùng đất được khoanh tṛn theo quan điểm chiến lược khác nhau. Nhưng Kontum luôn mang trong ḿnh những yếu tố trường tồn : đó là t́nh người dân tộc và Kitô giáo. Không ǵ tốt hơn là chúng tôi xin ghi lại  sau đây một số đoạn của linh mục thừa sai Guerlach trả lời cho Camille Paris, con người đă bôi nhọ các vị thừa sai, trích trong "L' Oeuvre néfaste" được trưng dân trên dưới một số vấn đề cụ thể sau đây:

 

a -  Về mặt  an ninh - xă hội.

 

"Chẳng có ǵ hơn sự kiện tụ hợp một số lớn các buôn làng dưới cùng một thủ lănh, đă tạo nên một tiến bộ quí giá đối với một t́nh trạng xă hội vô chính phủ trước đây".

"Về mặt xă hội. Các công việc nhân đạo và văn minh được nhận thấy rơ ràng qua sự ổn định - dù chậm - những chắc chắn cho toàn vùng, bằng cách dẹp được các vụ cướp bốc của một số người Jrai và chấm dứt cảnh đâm chém lẫn nhau giữa các buôn người Bana, nhờ các cuộc thương nghị công b́nh. Tôi đă nhiểu lần phải tốn hao tài lực để mưu cầu ḥa b́nh, trả các khoăng  tiền phạt cho bên gây chiến bất công, khi họ chao động v́ tốn phí  tiền của. Tôi cũng đă tổn hao tài chánh để kết ước thảo thuận giữa các buôn làng với nhau".

 

b - Về mặt  giáo dục.

 

Cha viết tiếp: "Cũng trong năm 1892, Cha Bề Trên Vialleton từ Pháp trở về và tôi hài ḷng trai lại cho Người trách nhiệm Bề Trên, sung sướng hết đảm nhận các trách vụ nầy. Cha Bề Trên đẩy mạnh việc giáo dục cho người dân tộc, dạy họ tập đọc. Những người ban xứ không có chữ viết, các vị thừa sai cho họ một loại h́nh chữ viết bằng cách phát âm nhờ tiếng quốc ngữ. Khởi đầu thật khó khăn vất vả, nhưng Cha Bề Trên Vialleton là con người kiên tŕ. Những cố gắng nầy mang nhiều thành quả tốt đẹp. Bây giờ có nhiều trường học trên vùng đất truyền giáo và kể như một chuyện lạ lùng là 3, 4 bà vợ trẻ đă học đọc, không muốn thua kém so với ông chồng ḿnh ( . . .)".

 

c - Về việc bài trừ mê tín.

 

"Trong lúc Cha Bề Trên dạy cho các cư dân hương vị tiếng  bản địa và bố trí cho họ một quyển sách tiếng Bana, th́ tôi lại ra đi truyền giáo. V́ nghĩ đến lợi ích vật chất của người ban xứ, nên tôi quan tâm nhất là đến lợi ích thiêng liêng, đến huấn đạo luân lư và phần rỗi của họ. Khi làm như vậy, tôi ư thức phục vụ rất nhiều và lâu dài kể cả phương diện vật chất, bằng cách bài trừ các thực hành mê tín là những  nguyên nhân làm cho họ tổn hại rất nhiều".

Làm  nổi bật khía cạnh phát triển, nghĩa là muốn nâng cao dân sinh là phải loại trừ mê tín dị đoan và đem phương thức canh tác có khoa học hơn.

"Các công nhân, viên chức, các nhà thám hiểm đến vùng Bana đă có thể nhận thấy tận mắt rằng người công giáo cày ruộng bằng chiếc cày, cái bừa do các vị thừa sai đem vào phổ biến. Các nơi khác, dân bản địa dùng cái bới, cái cuốc sắt nhỏ  làm rẫy, chọc trỉa. Có một bữa tôi hỏi người đứng đầu dân Gơlar tại sao họ không cày bừa vùng đất rộng được trận lụt định kỳ đem màu mỡ đến, nhờ vậy mùa  gặt lúa mang lại kết quả thu hoạch tốt đẹp !. Lúc đầu ông t́m cách thối thoát, nhưng cuối cùng, ông thú nhận với tôi : "jang káp pơgra" ( thần đ̣i hỏi chúng tôi nhiều qua). Ông ta giải thích cho tôi biết là có một người trước đây cũng bắt đầu cày ruộng với chiếc cày, nhưng Iang Glaih (Thần Sấm Sét) hiện ra với ông ta trong  giấc mộng, đ̣i ông ta phải cúng thần mỗi năm một con trâu, nên ông ta không muốn dùng cày mà cày đất ruộng rẫy nữa. V́ không có ǵ để cúng theo yêu sách đó, và sợ mọi tai ương hoạn nạn và bị chết nếu không chấp hành. Người  Gơlar không dám tiếp tục nữa. V́ thế, dùng cày bừa bị đ́nh chỉ với người Sơđang trong các vùng nầy. C̣n biết bao nhiêu mê tín dị đoan rầy rà hơn nữa".

 

d - Y tế - bài trừ bệnh tật.

 

Nạn dịch đầu mùa, bệnh tật hoành hành trong các buôn làng bản địa. Sự đóng góp và cố gắng chận đứng những nạn dịch và bệnh tật như thế nào trong vùng Kontum? Chưa kể lần đậu đầu tiên vào năm 1893 , Cha Guerlach sau khi từ Huế về gặp cảnh đau thương dịch đậu mùa sát hại 86 người Kon Hara, 106 ở Rơhai. Nạn dịch lan rộng 5 nơi, cha vội xin thuốc ngừa, chủng ngừa, cũng như t́m phương thế đào tạo nhân sự để giải quyết phần nào các bệnh dịch hăm dọa tiêu diệt cư dân. Cha Guerlach viết như sau:

"Sau khi miễn dịch được cư dân vùng Truyền giáo, tôi lên vùng Sơđang, khi một nhóm người Gơlar tới xin tôi đến miền của họ, v́ bệnh truyền nhiễm đă hoành hành dữ dội.

 

" Tôi đi ngay. Chúng tôi đang ở giữa  mùa mưa như thác  làm ngập cả vùng thung lũng; trong hai ngày, tôi đi dưới mưa gió, và các người dân tộc mang các đồ đạc đơn giản của tôi phải run rẩy v́ lạnh buốt, v́ sợ hăi, v́ gió thổi rít quá mạnh. Khi tôi đến, một trong các chủ làng thốt lên: ' Quả thật, các linh mục thừa sai có một trái tim quảng đại và can trường, phải công nhận cha đă thương chúng tôi quá sức để đến đây, mặc dù trời mưa gió băo táp; chúng tôi biết ơn các ngài'.

 

"Để tránh tai họa nầy, các người dân tộc phải phân tán vào các truông, những khoảnh đất hoang, do đó tôi phải vất vả cực nhọc đến với họ, luôn luôn đi dưới mưa gió và tôi chủng ngừa hơn 600 người trong vùng người Gơlar."

 

"Hết 8 ngày, tôi phải chỉ dẫn cho dân địa phương cách thức chủng ngừa và tôi trở về miền của tôi, từ  đó tôi lại lên vùng Sơđang cũng đang bị dịch đậu mùa hoành hành do các người Kon Krôh mang tới . . "" (. . .) Để tự đề phồng, các người Sơđang đă đặt chung quanh làng những cây cột thành h́nh chữ thập, các cây chông bằng tre và các loại bẫy. Một chùm cây gay to tướng chắn lối ngoài cổng làng. Tôi chủng ngừa các dân cư trong  3 làng, rồi tôi lên vùng Kon Run, sau cùng tôi chủng mọi dân làng Hagou, mọi bộ tộc Kon Trong, Kon Jơry. V́ thế, tôi quá mệt mỏi nhưng bệnh truyền nhiễm bị chận đứng, và cả vùng được an toàn. Tôi đă  chủng hơn 7000 người, một công việc đ̣i thời gian dài và mệt mỏi ( . . )".

 

"Có cần nói đến các thứ thuốc men do chúng tôi cứu trợ cho hết mọi người, không phân biệt lương hay giáo chăng ? Tiền để lập tủ thuốc hằng năm từ 4 lên tới 600 đồng phật lăng Pháp : vốn tiền chi dụng càng tăng lên, nhất là trong thời kỳ bị nạn dịch.

 

"Nhờ thuốc Hoàng nam chúng tôi đă cứu biết bao nhiêu người địa phương bị rắn cắn thường th́ bị chết do nộc độc  của nó".

 

e -  Chận đứng việc buôn bán nô lệ.

 

Cha Guerlach khẳng định:

"Tôi làm trong khả năng của tôi để chận đứng lộ tŕnh buôn bán nô lệ, bằng cách chấm chỉ rơ ràng các người buôn bán nô lệ không được qua lại trên những con đường chúng tôi xây dựng. Các nô lệ bị người Sơđang bắt, trong trường hợp không bán được, thường  là bị giết chết.

 

"Trong thời kỳ đầu của nạn dịch đậu mùa, một vai người Sơđang giết nô lệ người kinh để cúng thần. Trẻ em bị cột chặt vào trụ như một con trâu và suốt đêm, người dân tộc múa nhảy chung quanh các vật tế thần nầy trong tiếng trầm bỏng của chiêng trống. Người ta sẽ hiểu các nạn nhân bị căng thẳng chịu một cảnh tượng hấp hối trong một đêm rùng rợn năo nề hăi hùng như thế nào ! Khi mặt trời vừa ló rạng, trẻ em bị đâm bằng những nhát dao, sau đó mọi dân trong buôn làng lấy ngón tay thấm máu và bôi vào ngực ḿnh. Thây ma th́ đem đi chôn!

 

"Tiếp đó, người ta giết trâu và cùng nhau ăn thịt sau khi dâng cho các yang phần đặc biệt.

"Đấy c̣n là những điều rùng rợn mà tôn giáo phải khử trừ ( . . .)

"Tôi có nên nói đến các mê tín dị đoan mà các  vị thừa sai dân dần khử trừ trong các buôn làng ṭng giáo không ? Ví dụ : "deng" mà người Jrai gọi là "rơlung " (Ma lai). Đó là một sức mạnh ẩn khuất mà người nào đó có được sức mạnh đó, từ xa có thể giết và ăn được hồn của nạn nhân ḿnh. Biết bao nhiêu người xấu số đă bị bắt giết chết ngay, cách thê thảm chỉ v́ mê tín dị đoan "deng" nầy!".

"Trong làng công giáo không c̣n loại mê tín dị đoan nầy nầy nữa".

 

2.  Giai đoạn 1908 - 1933.

 

Trong thời gian đầu, số linh mục ít, hoàn cảnh khó khăn, các vị thừa sai có gắng vượt bực để đem tinh thần Tin Mừng vào nếp sống, cơ cấu tổ chức xă hội cổ sơ là buôn làng của người dân tộc. Tuy nhiên vào những giai đoạn sau ( 1908 - 1933), nghĩa là giai đoạn tổ chức chuẩn bị thành lập địa phận vào năm 1932, phương thức Phúc âm hóa vùng dân tộc Tây nguyên chuyển biến cách cụ thể và dài hơi, là xây dựng cơ sở, đào tạo nhân sự.

 

Ngoài các trường học tại họ đạo, một trường đào tạo lớp thầy giảng người dân tộc khởi công từ năm 1905, khánh thành ngày 7 tháng 1 năm 1908, c̣n nhiều cơ sở y tế, xă hội khác . . vùng đội  ngũ nhân lực thiện chí, khả năng, nhất là có ḷng thương yêu và tôn trọng anh em dân tộc để phục vụ cho anh em dân tộc.

 

Vùng Truyền giáo Tây nguyên vào năm 1932 hội đủ điều kiện để trở thành một vùng truyền giáo độc lập.

"Năm 1930, số giáo dân từ 18.000 lên 80.000 tín hữu, có 45 vị thừa sai ngoại và gần 90 linh mục bản xứ thuộc địa  phận Quinhơn. Riêng Vùng truyền giáo (Kontum) phát triển tốt đẹp về số lượng cũng như phẩm chất ḷng đạo : 20.000 tín hữu, 14 linh mục thừa sai ngoại quốc, 11 linh mục  kinh và 03 linh mục người Bana. Đólà một vùng mà chẳng có ǵ giống với Vùng truyền giáo Quinhơn : chủng tộc, khí hậu, ngôn ngữ, phong tục, thể chế chính trị, phương pháp truyền giáo . . .  mọi cái đều khác".

 

"Do t́nh trạng địa dư, nhân văn và tôn giáo của vùng, Ṭa Thánh thấy cần tạo lập một vùng truyền giáo độc lập. Ngày 11 tháng 01 năm 1932, Ṭa Thánh thi  định một địa phận gọi là Kontum - độc lập, và ngày 15 - 01 - 1933, Cha Jannin, Vị thừa sai ở vùng Kontum truyền giáo cho người dân bản địa từ 43 năm, được bổ nhiệm Giám mục Gadara và là Vị Đại Diện Tông Ṭa đầu tiên trên vùng Tây Nguyên nầy".

 

"Ngày 18 tháng 04 năm 1933, Cha Jannin xuống Quinhơn tŕnh Tông thư bổ nhiệm cho Đức Cha Tardieu, Giám quản Quinhơn và tuyên thệ theo giáo luật qui định cho các Tân Giám Mục Giám Quản Tông Ṭa. Như vậy, Ngài chính thức là Vị Giám Quản Tông Ṭa một địa phận mới, và chính thức chia  thành hai địa phận:  Quinhơn và Kontum từ đó".

 

"Địa phận Kontum gồm 4 tỉnh : Kontum, Pleiku, Ban-mê-thuột và Attopeu, bề rộng từ 150 km đến 20 km; dài : 450 km, diện tích 70.000 km2 và 700.000 dân cư ".

 

Địa danh KONTUM đă đi vào lịch sử của Giáo hội hoàn vũ, là một trong các địa phận tại Việt-nam. Như vậy, từ năm 1932, địa danh KONTUM chính thức sử dụng trong Giáo hội để chỉ vùng đất truyền giáo bao la và bao gồm một số đông đảo  700.000 cư dân kinh cũng như  một số lớn các dân tộc trên đất Tây nguyên và Hạ Lào.

 

MỘT VÀI CẢM NGHĨ.

 

KONTUM - nới rộng ra như một đất nước chẳng hạn: nó có thể thuần chủng hay gồm đa chủng tộc cùng qui tụ chống ngoại xâm, hoặc do lấn chiếm bằng vũ lực, hay thực dân bằng kinh tế, kể cả bằng chính trị và nhiều trường hợp bằng cộng sinh để tập hợp lại thành một đất nước thống nhất. Nhưng điều quan trọng nhà cầm quyền biết theo chính sách "an dân" như Nguyễn Trăi, để qui hướng tất cả mọi người đồng tâm xây dựng thành một quê hương tươi đẹp, một đất nước hạnh phúc thật sự. Kontum phần nào theo qui luật như thế, nhưng c̣n bao hàm một số yếu tố khác về giá trị dân tộc và tôn giáo.

 

KONTUM từ một địa danh nhỏ bé đă trở  nên một sức sống cho toàn vùng Truyền giáo Tây nguyên và ảnh hưởng đến nếp sống của người dân, nhất là người dân tộc bản địa. Sự sống đó là tính dân tộc dần dần được thấm nhuần tinh thần Kitô giáo. Nói cách khác, chính là Tin Mừng Chúa Kitô dần dần hội nhập và cải hóa toàn bộ cơ cấu tổ chức xă hội, nhất là tâm thức tôn giáo cổ sở của họ.

 

KONTUM ví như  ḍng sông Dak Bla bắt nguồn từ đỉnh núi cao phía bắc tỉnh, bằng muôn vàn hạt nước li ti, dần kết tụ lại thành những con suối nhỏ, để rồi trở thành ḍng sông lớn tưới mát và nuôi sống vùng đất thân thương, và từ thị xă Kontum, nó hướng ḍng về phía tây đem  phù sa, cuối cùng đổ về miền Nam Việt nam. KONTUM cũng bắt nguồn bằng hạt mưa  của "Suối Nước Hằng Sống", đi ngược ḍng đời, tô điểm cho ḷng người với Ơn Thánh Chúa, biến đổi xă hội để thăng tiến con người lên Đỉnh Núi Cao của thế giới Thần Thánh.

 

Người dân tộc KONTUM  hiền ḥa,  chân chất lao động trên mảnh đất Tây Nguyên, cũng như khung cảnh sống hôm nay đă biến đổi rất nhiều: đồng ruộng, nông trường chen lẫn với đồi trọc hay phần nào đă được phủ xanh; các buôn làng và thôn xă  kinh tế mới, lấn dần rừng núi làm cho thú rừng phải chạy trốn hoặc t́m  thức ăn nơi khác. Điện thắp sáng nhiều nơi, phương tiện nh́n nghe tăng dần và nhiều nơi lại ngập dưới ḷng hồ Ya-Ly, một số người dân ven sông Dak-Bla t́m các kế sinh nhai khác. Điều quan trọng là ḷng đạo đức và lương tâm chất phác nay cũng đă bị ô nhiễm nhiều với xu hướng hưởng thụ và nạn rượu chè có nơi ngày càng tồi tệ hơn trong một số thành phần xă hội, ngay cả nơi một số người dân tộc. Trước mắt, nội lực của người dân tộc cần tăng cường để họ ư thức việc học tập và thăng tiến bản thân với những phương thế Nhà Nước đang đầu tư trong nhiều lănh vực như học đường, y tế,  phát triền ngành nghề . . . là điều cấp thiết và bản thân họ phải vươn lên. Không thể t́m sức mạnh biến đổi cuộc đời họ ngoại trừ trong chính bản thân họ và trong môi truờng xă hội hôm nay. Phúc âm hoá vùng Tây Nguyên phần nào và bước đầu đă giúp họ vượt thắng được các tŕ trệ trong việc phát huy tài năng cũng như kiến tạo một xă hội ngày càng công b́nh và tốt đẹp hơn theo như ḷng Chúa mong muốn. Với "văn minh t́nh thương" của Kitô giáo  và nhờ mạc khải "mọi người là anh em", cùng Cha trên trời, họ được tôn trọng và biết tôn trọng người khác với tất cả trách nhiệm trong việc phục vụ cho bản thân, cho gia đ́nh và cho xă hội. Các Giám mục Giáo phận Kontum từ xưa luôn chủ trương người tín hữu Tây Nguyên cùng sống đạo trong các tương quan hỗ tương với thái độ biết tôn trọng và phục vụ nhau trong một đất nước Việt nam. Các Ngài không chủ trương Tây Nguyên phải đóng kín hoặc cấm chỉ người kinh lên lập nghiệp tại đây, như  Léopold Sabatier được mệnh danh là " cha già của người Rađê", là "ông vua da trắng"[1] tại Ban-mê-thuột (tỉnh Daklak) đă chủ trương vào thập niên 20-30 thế kỷ XX. Các ngài cũng phê phán việc di cư  vô chính phủ phá huỷ sinh thái tự nhiên và khung cảnh sống thích hợp cho người dân tộc hoặc khinh miệt họ. Các Ngài đă  đưa ra đường lối mục vụ chỉ đạo trong việc người kinh định cư trên vùng Tây Nguyên, nhất là trách nhiệm người tín hữu như thế nào để loan báo Tin Mừng cũng như xây dựng nền văn minh t́nh thương và phồn vinh mà không đánh mất bản sắc dân tộc vùng Tây Nguyên. Định cư người kinh trên vùng dân tộc Tây nguyên là vấn đề gai gốc, xă hội cũng như Giáo hội đều quan tâm đặc biệt. Vấn đề nầy sẽ tŕnh bày trong một chuyên đề khác khi hoàn cảnh cho phép.

 

Một vài con số thống kê.

Số giáo dân có thể thống kê (vài nơi chưa đầy đủ) theo đơn vị hành chánh trong toàn Giáo phận Kontum như sau:


 

SỐ GIÁO DÂN TỈNH GIALAI

Ngày 14 tháng 11 năm 2001 (Xếp theo đơn vị hành chánh Huyện)

 

Stt

Huyện

LM phụ trách

Tín hữu Kinh

Tín hữu

Dân tộc

Tổng số

Ghi chú

1

An Khê Kơbang

Cha Minh

2794

 

2794

An khê - Chợ Đồn - An Lũy

2

An Khê Kon Chơro

Cha Quy

1614 

 

1614

An Sơn – Đồng Sơn

3

Ayunpa-Krong-Pa

Cha Phán

 

3500

3500

TTTG. Bon Ma Djơng

4

Ayunpa-Krong-Pa

Cha Đắc

4494

 

4494

Phú Bổn

5

Chưa Sê

Cha Tín

4313

8000

12313

TTTG. Plei Kly-Phú Nhơn Phú Quang-Mỹ Thạch

6

Chưa Pah 

Cha Đông

 

 

 

Sơđăng -Ḥa Phú – Ninh Đức

Cha Thượng

6818

1410

8228

Habâu –Ngô Sơn -Biển Hồ Trà

7

Đak -Đoa

 

 

 

 

Lệ Chí

Cha M. Oanh

 

 

 

La Sơn

Cha Huỳnh

 

 

 

Lệ Cần - Phaolồ

8

Mang Yang

 

 

 

 

Châu Khê – Phú Yên – Kret Krot

9

Đức Cơ

Cha Lợi

 

 

 

Plei Rơngol Khop

10

Chưa Prong

 

3600

1200

4800

Duc-Hưng-Thanh B́nh  Thanh Hà – Bầu Cạn(Sơdang)

Cha M. Oanh

 

 

 

Phú Mỹ

11

TP. Pleiku

Cha Huỳnh

437

 

28819

An Mỹ

 

5061

4000

 

Phú Thọ

Cha Đông

3000

511

 

Đức An

Cha Nam

6276

 

 

Thăng Thiên- Hoa Lư Hiếu Nghĩa– Hiếu Đức

Cha M. Oanh

6319

 

 

Thánh Tâm – Phaolô – Phú Tâm

Cha Tài

 

 

 

3215 TTTG. Plei Chuet

Cha Thượng

 

 

 

Tiên Sơn- Ḥa B́nh – Trà Đa

12

 

 

2105

4000

6105

Dự ṭng - KTM tự do

 

 

TỔNG

 

46831

25836

72667

 

 

SỐ GIÁO DÂN TỈNH KONTUM

Ngày 14 tháng 11 năm 2001  
(Xếp theo đơn vị hành chánh Huyện)
 

 

Stt

Huyện

Lm phụ trách

Tín hữu Kinh

Tín hữu Dân tộc

Tổng số

Ghi chú

1

Dak Glei

Cha B́nh

 

2458

2458

 

2

Dak Hà

 

7573

 

 

Cha Đôm. Lộc

 

2300

 

21790

Vơ Lâm (Ngô Trang)

400

 

Vơ Lâm (Dak Ui)

Cha Chương

 

8517

 

Cha Liên

 

3000

 

3

Dak Tô 

Cha B́nh

 

15746

16246

 

Cha Nên

500

 

 

Diên B́nh

4

Kon Plong

Cha Liên

204

4383

4587

Kon Sơmluh

5

 

 

Cha Lộc

1600

 

 

 

 

 

 

49027

Vơ lâm

Cha Hiệu 

1579

 

Trung nghĩa

 

4370

550

Phương Ḥa

Cha Đường

729

3432

Plei Jơdrâp

Cha Hữu

 

5000

Măngla

Cha Liên

 

5443

Kontum

Cha Sơn2154

2154

1500

Phương Quư

Cha Tâm

5248

 

Phương Nghĩa

Cha Thủ

2476

1076

Tân Hương

Cha Chương

 

4540

Kon Rơbang

Cha Sự

991

2881

Plei Rơhai

 

1100

 

Tân Phú

Cha Nên

 

4358

Kon Jơdreth

6

Ngọc Hồi

Cha B́nh

 

5495

5495

 

7

Sa Thầy

C. Sơn

300

 

5300

Sa B́nh-Sa Thầy

 

 

C. Hữu

 

5000

Sa Thầy

8

 

 

5000

 

5000

Kinh tế tự do

 

 

TỔNG

26651

83252

109903

 

 

Gh Kontum

26651

83252

109903

Gh Pleiku

46831

25836

72667

TC

73482

109088

182570

 

Vấn đề nhân sự. Một Giám mục Giáo phận, một Giám mục đă hưu và số linh mục đang phục vụ trong Giáo phận nay không  quá 30 vị,  trong số đó những linh mục trong diện hưu dưỡng hoặc đang đau ốm. Chưa được 20 linh mục đang phục vụ tại giáo xứ, kiêm nhiệm nhiều nơi như thống kê trên phần nào minh họa. Do đó vấn đề nhân sự để phục vụ Lời và Hội Thánh  đặt hàng đầu.


Gia đ́nh. Không thể có ơn gọi linh mục, tu sĩ cũng như  những con người phục vụ Hội Thánh nếu không có một gia đ́nh  đạo đức, có nền tảng đức tin sâu sắc và tinh thần dấn thân quyết liệt. Do đó gia đ́nh giữ vai tṛ to lớn trong việc ươm mầm hạt giống Ơn gọi tông đồ và linh mục tu sĩ.


Phục vụ là trách nhiệm của Giáo hội, nhất là phục vụ cho người nghèo. Nhiều người trong Giáo phận, nhất là người dân tộc và kinh tế mới, kể cả những người kinh lâu đời vẫn trong t́nh trạng nghèo khó. Giáo phận luôn quan tâm và trăn trở, chưa có chỗ tựa chân vững để  có một chương tŕnh mục vụ phát triển có hiệu năng.


Nhưng vấn đề giáo dục lương tâm, và tấm ḷng nhân ái, cũng như biết tôn trọng  phẩm chất con người nói chung, anh em dân tộc nói riêng là cấp thiết hôm nay, nhất là trong một thế giới thụ hưởng vật chất và tiện nghi. Xây dựng một nền văn minh t́nh thương là tiếng nói thúc đẩy Giáo phận luôn thao thức sao cho môi trường sống theo công lư và được thấm nhuần t́nh yêu tha thứ để cùng toàn thể mọi người trong xă hội vươn lên đời sống tâm linh.


Miền đất KONTUM vẫn c̣n là một Giáo phận mang tính truyền giáo. Truyền giáo là vấn đề hội nhập văn hóa, t́m kiếm và trân trọng đón nhận những Hạt giống Tin Mừng trong các nền văn hóa địa phương, đồng thời thăng tiến và phát triển các mầm giống đó trong ḷng tin sống động vào Thiên Chúa duy nhất, chân thật và vào Đức Kitô, Người được Thiên Chúa sai đến để cứu độ trần gian bằng t́nh yêu hy sinh trên thập giá. Đây là một lời mời gọi và cũng là một thách đố to lớn cho tất  cả những con người đă và đang phục vụ trong cánh đồng truyền giáo KONTUM, một địa danh mang tính dân tộc và Kitô giáo vậy.

 

Kontum, ngày 01 tháng 01 năm 2002

Lm. NGUYỄN HOÀNG SƠN