MỘT KINH NGHIỆM SỐNG
(tiếp theo kỳ trước)

 

HUMILITATEM MEAM
v́ Người đă đoái thương đến chút phận..
(Lc 1,48)

 

Tác giả: TÊPHANÔ Thế Tâm NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

 

nguyên cựu Khoa Trưởng Văn Khoa, Đại Học Đà Lạt và cũng là Giáo Sư của các anh em CVK như các cha Hồng, Vinh, ... và nhiều anh sau này: Tiên, Trường.

Trong quyển sách này tác giả sẽ cho chúng ta thấy sự trở lại đạo Công Giáo của ông và những cảm nghĩ thực tế, sâu xa về Giáo Hội. Tác giả quả là một chứng nhân của thời đại.

 

7.

 

THIÊN CHÚA TƯỚC ĐOẠT

 

Tưởng cũng nên nhắc đến một mối t́nh nhân thế của tôi vào những năm 43 - 45, một cuộc t́nh vô cùng ngang trái, tuy không thảm khốc nhưng khá nhiều bi kịch tính v́ là một mối t́nh bất khả (impossible) mà tôi - một mặt là kẻ phụ t́nh làm đau khổ kẻ khác, một mặt lại là kẻ bị đau khổ v́ không được đáp lại! Đó cũng là một việc tô đậm thêm cho ư thức của tôi về trần gian này là nơi đầy khổ lụy, và làm cho tôi không c̣n chờ đợi ǵ ở một mối t́nh nào trên trần gian này nữa, khi mà tôi được biết là Chúa yêu tôi. Vả lại, những biến cố dồn dập xảy đến trên đất nước cũng như trên gia đ́nh và cá nhân tôi làm cho vấn đề ‘t́nh yêu’ nhân thế hầu như không có tác dụng ǵ đối với tôi nữa! Trước những vấn đề của thời cuộc đối với cá nhân, đất nước, Hội Thánh, Nhân loại, tâm tư tôi không c̣n chỗ cho t́nh yêu cá nhân nữa. Suốt cuộc đời độc thân, nhiều lúc nỗi cô đơn tràn ngập tâm hồn, nhất là những năm xa gia đ́nh, xa đất nước; nhưng tôi vẫn không nghĩ rằng một mối t́nh nhân thế nào có thể lắp đầy chỗ trống của ḷng ḿnh, ngoại trừ T́nh yêu của Đấng đă chịu chết trên Thập giá v́ tôi, không phải là không có những mời mọc hoặc tôi không có những lúc chao đảo ngả nghiêng. Thế nhưng cuối cùng, càng lớn tuổi tôi càng thể nghiệm lời của thánh Au Tinh: "Chúa đă tạo nên con cho Chúa, nên ḷng con luôn khắc khoải măi cho tới lúc nào con được gặp Chúa mới thôi!". Dĩ nhiên đây chỉ là trường hợp riêng tôi, không có tính cách phổ quát. Tôi biết có rất nhiều tâm hồn có kinh nghiệm ngược lại. Chính là nếm được một t́nh yêu nhân thế mà họ đă nhận ra được T́nh yêu Thiên Chúa, đúng như lời thánh Phaolô nói: Hôn nhân là dấu chỉ của mầu nhiệm phối hợp cao vời giữa Chúa Kitô và Giáo Hội Ngài. Trường hợp của tôi không phải là phổ quát nhưng khá phổ biến, nhất là những tâm hồn ngoài Kitô giáo. Như tôi đă nói trên, việc trở thành người Công giáo thường khá khó khăn, nên Thiên Chúa phải dùng nhiều cách để gợi ư, mời mọc, thúc bách, phá vỡ những ràng buộc và ngăn cản thuộc mọi b́nh diện, trong những cách ấy, việc nếm qua kinh nghiệm cay đắng của t́nh đời là một cách khá hiệu nghiệm (t́nh đời ở đây không phải chỉ có t́nh yêu nam nữ mà là mọi mối t́nh khác nữa!).

 

Chính Chúa Giêsu cũng mời gọi: "Ai mệt nhọc lao lung, hăy đến cùng Ta". Một tâm hồn như Tê-rê-sa Hài đồng, mà cũng phải qua những kinh nghiệm bẽ bàng như vậy về t́nh đời mới đi sâu vào mầu nhiệm của T́nh Yêu Thiên Chúa, phương chi tôi là một tâm hồn ứ đầy bao nhiêu là những điều thuộc về thế gian chất nặng, cầm buộc, cần phải dày công thanh luyện.

 

Quả vậy, nếu khi đậu tú tài, tôi được tiếp tục vào Đại học ngay, tốt nghiệp và thành đạt ngay với vợ đẹp con khôn, nhà cao cửa rộng, danh vọng quyền uy, rồi năm nay lên 60 tuổi, là một vị thượng quan hồi hưu có bổng lộc cao, con cháu đùm đề, th́ ḷng tôi đă đầy ắp, hỏi có c̣n chỗ cho Chúa ngự vào nữa không? Khôn ngoan như vua Salomon mà cũng ĺa bỏ Chúa v́ bả vinh hoa, phú quí, t́nh ái! Thế mới hay khốn cho kẻ giàu, phúc cho kẻ nghèo! T́nh yêu Chúa chẳng khác nào rượu quí, muốn đổ rượu vào b́nh, phải trút hết những thứ đang làm cho b́nh đầy ứ; chính những sự cố xảy ra năm 1945 làm cho cái b́nh đời của tôi được đổ vơi đi những thứ nó đang đầy ắp: trước hết là sự sụp đổ về vị trí xă hội trước Cách mạng mùa thu. Dù không lấy làm vinh dự lắm về địa vị ‘con quan’, tôi vẫn thuộc về tầng lớp thượng lưu: một cậu tú con một vị danh Nho làm quan đến nhất phẩm, có tiếng thanh liêm và được vị nể, bản thân lại học giỏi, được thày yêu bạn mến, hướng tương lai tiến thân mở rộng về nhiều mặt: học vấn, t́nh duyên, địa vị, tài sản kể cả danh thơm tiếng tốt ít nhiều!… Cách mạng mùa thu đến như một cơn tỉnh mộng ! Nhưng sâu xa hơn, Cách mạng mùa thu không phải chỉ là một cuộc cách mạng xă hội làm cho địa vị xă hội của gia đ́nh tôi đổi thay, mà c̣n bắt tôi phải đặt lại vấn đề nấc thang giá trị về nhân sinh : thuyết Mác xít đăt cho tôi nhiều câu hỏi về mọi mặt. Và chính b́nh diện này mới là quan trọng : vấn đề nhân sinh quan trong căn bản của nó.

 

Quả vậy, tuy từ 45 đến 55, gia đ́nh tôi có quá nhiều bước ch́m nổi đắng cay, nhưng cuối cùng chỉ có cá nhân thân phụ tôi là chịu thiệt tḥi, mà cũng măi đến cải cách ruộng đất v́ một số sai lầm tả khuynh trong việc thực hiện của địa phương nên mới thế. Vả lại, nếu sức khoẻ của thân phụ tôi khá hơn, chịu đựng được một năm tại trại cải tạo, th́ sau khi sửa sai, sẽ lại được phục hồi chức vụ một ủy viên của Mặt Trận Liên Việt khu 4, và c̣n có khả năng là ủy viên Trung ương. Không may, người quá yếu nên đă sớm từ trần sau mấy ngày vào trại. Đó là ư Chúa nhiệm màu, tôi đă đề cập trên đây. Chứ cuối cùng anh chị em tôi sau này trong xă hội mới, đều có địa vị tương đối khá: Anh cả tôi về hưu với tiêu chuẩn ngang hàng thứ trưởng (cũng tương đương với thân phụ tôi lúc hồi hưu); em gái tôi hiện nay là ủy viên ban chấp hành trung ương Liên Hiệp Phụ nữ, các em trai tôi một là giáo sư đại học, một là phó tổng biên tập một tạp chí văn nghệ vào bậc thứ hai trong nước; em rể, anh rể tôi là kỹ sư, bác sĩ… Nói chung, trong chế độ mới, gia đ́nh tôi cuối cùng đều giữ được địa vị tương tự như trước. Mà phần lớn con cháu những gia đ́nh, tương tự như gia đ́nh tôi, cũng đều vậy cả… Cho nên, sự sụp đổ đây là sự sụp đổ của một nhân sinh quan : nửa phong kiến Nho giáo, nửa Tây học theo chủ nghĩa tự do tư sản chứ không phải sự sụp đổ về kinh tế xă hội dồn tôi vào thế kẹt nên sinh ra bất măn. Bởi v́ nếu tôi muốn th́ ngay từ năm ’46 cũng như sau này tôi vẫn có nhiều dịp có thể rất tiến thân trên đường danh lợi. Tuy trong căn bản không phải là ‘chán đời đi tu’, nhưng nhờ kinh nghiệm của một sự ‘đổi đời’ mà ư thức được bản chất ‘đổi đời’ của nhân thế.

 

Cũng nên biết rằng trong nhân sinh quan của Kitô giáo cũng rất nhiều điểm trái với chủ nghĩa Tự do Tư sản như: chống cá nhân chủ nghĩa, chống tự do quá trớn, chống lạm quyền tư hữu, chống tinh thần tài phiệt (phúc cho kẻ nghèo), chống một quan niệm học phiệt thượng lưu quá tôn trọng trí óc khinh dể lao động chân tay: Chúa Giêsu và thánhh Giuse đều là công nhân. Thánh Phêrô làm nghề chài lưới, thánh Phaolô tuy là người trí thức nhưng sinh sống bằng nghề dệt lều, các ḍng tu là những trung tâm sản xuất tập thể tuyệt vời. Không phải cái nhân sinh quan ấy tự nó không phải không có những giá trị chân chính; nhưng quả là đă hết thời! Nó không giải quyết được vấn đề chính trị xă hội của nước Việt Nam, và nó cũng không giải quyết được vấn đề nhân sinh muôn thuở.

 

Vốn đă được bài học của cụ Phan Bội Châu, vốn đă thích thơ Tố Hữu, kính mến nhà cách mạng Nguyễn Ai Quốc (mà tôi biết là cộng sản), cũng như các vị: Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, vốn biết tiếng các bậc thày như Đặng Thái Mai, Vơ Nguyên Giáp; là bạn thân với anh Đinh Nho Liêm, khá quen biết chị Nguyệt Tuế (Nay là Nguyệt tú phu nhân của tướng Lê Quang Đạo); và thấy các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Vơ Liêm Sơn, các anh Tạ Quang Bửu, rồi sau này Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, các vị Giám mục, Thượng toạ, đều đứng vào mặt trận chung chống Pháp, tôi không bao giờ có tư tưởng chống đối cách mạng cả. Và măi về sau cho đến nay, tôi không bao giờ có tư tưởng chống cộng sản cả! Điều đó rất dễ hiểu: v́ lúc ấy tôi tuy chưa phân biệt được sự khác biệt giữa những người mà tôi cho là đều có ḷng yêu nước: Nguyễn Ai Quốc, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Ngô Đ́nh Diệm (riêng đối với ông Ngô Đ́nh Diệm th́ chính Hồ Chủ Tịch cũng xác nhận: Ông ta là người yêu nước, nhưng yêu theo lối của ông ta"), nhưng sau khi cụ Phan Bội Châu từ trần, người mà tôi nghĩ là nhà cách mạng số một chính là cụ Nguyễn Ai Quốc, và tôi vui vẻ hăng hái tham gia vào đoàn thể Thanh niên cứu quốc do sự giới thiệu của anh Đinh Nho Liêm, tại làng Gôi Mỹ và sau đó là xă Mỹ Hoà (gồm B́nh Hoà hợp lại). Lúc ấy tôi đang ở Gôi Mỹ - là v́ sau ngày đảo chính Nhật, thân phụ gởi tôi về quê là nơi người về hưu trí từ năm 1942.

 

Từ tháng 4-1945 cho đến tháng 8-1945, tôi có giúp việc tại Hội đồng Hương chính làng Thịnh Xá, chủ yếu là giúp cứu trợ nạn đói đang hoành hành tại miền Bắc, từ Huế trở ra. Chúng ta chẳng nhắc đến kỷ niệm đau buồn ấy làm ǵ, nhưng đến nay h́nh ảnh những chiếc xe ḅ chất đầy xác người chết đói lượm nhặt từ các vỉa hè thành phố Vinh, đem đi chôn tập thể, vẫn c̣n làm cho tôi cảm thấy ớn lạnh. Trong những tháng ấy công việc chính của tôi là cùng với một số anh em thanh niên làng Thịnh Xá, hàng ngày chăm sóc một số chừng 50 em bé được tập họp tại đ́nh làng, ngày hai bữa quyên gạo nấu cháo rồi phát cháo cho các em ăn đỡ tạm qua ngày. Suy nghĩ lại, về các nhà địa chủ khác th́ tôi không có ư kiến, nhưng riêng đối với gia đ́nh tôi tuy rằng sự quyên góp gạo cứu đói kể là nhiều; nhưng riêng tôi xét hết sức khách quan, th́ vẫn chưa thật là đúng với ḷng ‘nhân’ của đạo Khổng, v́ tôi c̣n nhớ số lúa giữ lại cho gia đ́nh, so với nhu cầu cần kíp cho tới vụ hè thu tiếp đó, vẫn c̣n là quá nhiều. Đáng lẽ ra là phải tung ra cứu đói nhiều hơn nữa mới khỏi lỗi đạo Trời.

 

Sau thời gian sinh hoạt trong hàng ngũ Thanh niên Cứu quốc tại làng Gôi Mỹ (sau Cách mạng, gia đ́nh tôi thuộc về dân cư chính thức của Gôi Mỹ, không thuộc Thịnh Xá nữa), khi hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính xă Mỹ Hoà được thành lập, tôi giữ chức vụ thư kư ủy ban hành chính xă Mỹ Hoà. Anh Đinh Nho Liêm được cử lên tỉnh hoạt động trong đoàn thanh niên Cứu quốc tỉnh, nhưng giữ chức vụ ǵ th́ tôi không được rơ cho lắm. Như vậy là sau Cách mạng mùa thu, tôi được Cách mạng dung nạp và điều dụng tương đối tốt, nên không có ǵ đáng tiếc xảy ra. Thân phụ tôi sau một thời gian bị giam giữ tại nhà lao Vinh do yêu cầu của ủy ban kháng chiến tỉnh Nghệ An (nơi người là An sát năm 1930), được đưa ra toà và được trắng án, trở về tham gia Phụ lăo Cứu quốc, rồi Liên Việt xă và được bầu vào Hội đồng nhân dân xă. Cứ vậy mà tiến lên ủy viên ban chấp hành Ủy ban Mặt trận Liên Việt khu 4 cho đến năm 1953 mới chịu các đau đớn do những quá khích sai lầm của cải cách ruộng đất. Bản thân tôi cũng được Cách mạng mở đường để tiến thân. Làm việc tại ủy ban hành chính xă được mấy tháng th́ cấp ủy Việt Minh tỉnh Hà Tĩnh do anh Đinh Nho Liêm giới thiệu điều động tôi và người em gái kế tôi (hiện là ủy viên trong ban chấp hành trung ương Hội Phụ nữ như đă nói ở trên) lên tỉnh xung vào đội Tuyên Truyền Xung Phong. Như vậy Cách mạng đối với gia đ́nh tôi và bản thân tôi rất là tốt, không có ǵ là kỳ thị cả. Do đó đứng về mặt việc đời, tôi không có ǵ để gọi là oán hận, chống đối Cách Mạng cả. Và xét về mặt đời mà nói th́ tôi lại là con người đă phụ ḷng Cách Mạng (phụ ḷng chứ không là phản bội - v́ tôi không bao giờ tự ḿnh đi vào con đường chống lại hay phá hoại Cách Mạng cả, nói là phụ ḷng v́ tôi đă tự ḿnh rút lui để đi vào một con đường khác. "Khác" chứ không phải là đối nghịch hay phản động. Con đường ấy chính là con đường Tôn Giáo.

 

Tôi đă đi sang con đường ấy như thế nào ? Tôi dùng chữ ‘như thế nào’ (Comment) chứ không dùng chữ ‘tại sao’ (pourquoi) v́ nếu nói một cách tuyệt đối th́ câu trả lời cho câu hỏi ‘tại sao’ là do ‘ơn Thiên Chúa’, v́ nó là nguyên nhân đệ nhất (cause première), nguyên nhân căn bản (cause fondamentale). Những điều tôi ghi lại sau đây chỉ là mô tả (décrire) những sự kiện bên ngoài (ngoài đây là hiểu theo nghĩa hiện tượng : hiện tượng khả giác như các sự cố và cả những sự kiện khả thức thuộc thế giới tâm linh) mà Thiên Chúa dùng như những nguyên nhân đệ nhị (causes secondes) theo qui luật tự nhiên (mà qui luật này do chính Ngài sáng tạo và thiết lập) để kéo tôi ra khỏi những đồn lũy khá kiên cố đă cầm buộc tôi, để tôi có thể đi đến với Ngài, khác nào như xưa Ngài đă phải dùng trăm phương ngh́n kế để kéo dân Ngài ra khỏi Ai Cập và đưa vào đất hứa (cũng xin nói ngay là sau khi ra khỏi Ai Cập, dân Chúa vẫn c̣n phải lang thang 40 năm trong sa mạc; sau này sẽ kể lại cuộc đời lang thang của tôi gần 20 năm trong sa mạc trần gian này, sau khi đă gọi là thuộc về Ngài. Có lẽ măi sau này mới gọi là đứng trên bờ sông Gio-đan mà thôi). Sở dĩ phải phân biệt ‘tại sao’ và ‘như thế nào’ là để giải quyết vấn nạn mà người ta vẫn nêu ra cho các người trở lại theo đạo. Như việc trở lại của Pascal chẳng hạn. Có một số biến cố đầu tiên, đó là vụ tai nạn giao thông làm cho ông suưt chết. Dĩ nhiên chắc hẳn Pascal phải trải qua một cơn sợ khủng khiếp. Do đó có nhiều người cho rằng Pascal trở lại chỉ v́ bị kích động quá mạnh. Đúng trăm phần trăm ! Rồi Pascal, vốn sức khoẻ yếu kém, bệnh tật liên miên, nên có người cho rằng ông trở lại chỉ v́ không đủ cường lực thể lư chống chọi, phải t́m nơi ẩn náu, cũng đúng phần nào, v́ Pascal cũng có nhấn mạnh đến những nỗi ‘khốn khổ’ của con người (misères humaines). Cuối cùng có người c̣n nói Pascal thuộc ḍng dơi phong kiến, hoang mang trước sự trỗi dậy của giai cấp công thương đang được nền quân chủ chuyên chế nâng đỡ nên sinh ra bi quan. Cũng có phần đúng ! V́ thế, nên đặt tiền đề là: Không có Thiên Chúa, không có thế giới siêu nhiên, th́ dĩ nhiên sẽ thấy, và sẽ chỉ thấy có những hiện tượng quả có thật ấy mà thôi : và ắt sẽ phải kết luận rằng Pascal trở lại chỉ v́ những hiện tượng ấy. Lô-gích trăm phần trăm. Chứng minh theo luận lư h́nh thức th́ đúng thật một trăm phần trăm.

 

Thế nhưng, chỗ hở của lập luận ấy là phạm phải cái sai lầm ‘tiền đề tiền kết’ kết luận đă có từ trước khi chứng minh rồi. V́ ngay từ tiền đề đă gạt hẳn Thiên Chúa và siêu nhiên ! Cũng như kẻ đổ hết nước trong b́nh ra trước rồi mới biện luận để chứng minh rằng trong b́nh không có nước vậy ! Việc Thiên Chúa đưa dân Ngài qua Biển đỏ cũng vậy, Ngài có sai tổ phụ Abraham hay các Thiên Thần hiện ra múc cạn nước đâu. Ngài chỉ can thiệp một cách gián tiếp qua trung gian những qui luật tự nhiên, chỉ có con mắt đức tin mới chọc thủng lớp nguyên nhân đệ nhị ấy để thấy được nguyên nhân đệ nhất, nguyên nhân nền tảng lồng xuyên qua chuỗi hạt nguyên nhân đệ nhị ấy. Do đó mà tôi không bao giờ chứng minh, tôi chỉ làm chứng về một NIỀM TIN, một NỖI YÊU. Mà nỗi niềm tâm sự th́ hỏi ai bây giờ ? Hỏi ai ? Nhưng ai lại chẳng có nỗi niềm phải không ai ? Chữ ai nhắc đến câu nói của Phaolo : " Tôi biết tôi tin vào Ai" (‘qui’ chứ không phải ‘quoi’, ‘ai’ chứ không phải ‘cái ǵ’), cho nên đây là một thế giới của những cái ‘ai’: một Ai nói vơí một Ai về một Ai chứ không phải là việc t́m cách kiểm chứng về một cái ǵ, điều mà máy móc làm chính xác hơn con người ! C̣n Luạn lư h́nh thức (logique formelle) chỉ là một guồng máy thực ra cũng vô tri vô giác; A = A th́ thực ra có biết thêm ǵ đâu! Lô-gích chỉ là cái máy vận dụng cơ giới chơi không (formelle) chứ có nắm được hiện thực ǵ đâu (nó chỉ có cái vỏ nên mới gọi là formelle, như cối xay không có ǵ bỏ vào đó cả, không vẫn hoàn không). Giải thích sự trở lại của Pascal như trên là biến Pascal thành một đồ vật : ghi nhận trung thực kiểu chụp h́nh, rất rơ, rất chi ly, rồi đem vào guồng máy suy diễn luận lư h́nh thức, th́ có khác nào đưa mía vào ép, đương nhiên nước ngọt chảy ra hết, và chỉ c̣n xác mía. Quan Am Thị Kính bị kết án âm mưu giết chồng cũng vậy : ông chồng mở mắt ra chụp h́nh rất chính xác, ‘cô ta đang cầm dao kề cổ ḿnh’, trong tiền đề đă gạt ra cái ư rằng đó có thể là một cử chỉ yêu thương : rồi đem suy diễn rằng dao kề cổ th́ ắt là cắt cổ. Kết luận : âm mưu giết chồng thật đúng trăm phần trăm theo lô-gích h́nh thức ! Trạng sư nào căi nổi ? Chỉ niềm ‘tin yêu’ mới thấy được đó là một động thái yêu thương.

 

Quan sát kiểu chụp h́nh bằng máy ảnh, suy diễn kiểu thuần tuư luận lư h́nh thức đă gây ra bao vụ ‘oan Thị Kính’. Nguyễn Trăi chết cũng do vậy ! Đợi đến Lê Thánh Tôn phục hồi th́ muộn quá rồi ! Thực ra Nguyễn Trăi bị kết án trước rồi, chuyện vua chết bên cạnh Thị Lộ chỉ là cái cớ, cái cơ hội, cái dịp để đưa ông ra xử trảm thôi. Trong ḷng ông chồng Thị Kính vẫn nghi rằng vợ ḿnh có thể giết ḿnh, việc kê dao vào cổ chỉ là cái cớ để cho sự nghi ngờ ấy biểu lộ thôi ! Thiên Chúa cũng vậy, người ta đă giết Ngài trong ḷng họ rồi, th́ t́m đâu ra Ngài nữa ? Chứng minh chỉ là hậu biện cho một tiền đề. Tin yêu là thuộc lănh vực tự do mà tự do th́ biện luận, kiểm chứng chỉ là hậu biện hết. Đă gọi là tự do th́ thoát khỏi mọi khuôn khổ, v́ nó là tự khởi đầu .

 

Do đó, kể chuyện tâm sự của ḿnh với ai là để ‘ai muốn nghe th́ nghe’ vậy thôi: rồi ai lại vẫn là ‘ai’ tự do tuyệt đối, có tin ai, có yêu ai là chuyện riêng của mỗi cái ‘ai’ muôn đời kín nhiệm.

 

Vả chăng suy cho cùng, một khi trí óc con người đă khép kín lại th́ có A - A (luận lư h́nh thức) mới là chắc một trăm phần trăm, c̣n nếu mở ra, đi vào hiện thực, th́ như một số nhà luận lư học đă nói : trong bất cứ một phán quyết nào về hiện thực (jugement d’existence) cũng bao hàm một chiều niềm tin. Bởi v́, ngay cả thế giới hữu h́nh này, xét về mặt ‘lư luận thuần túy’ mà nói, th́ lấy cái ǵ để bảo đảm trăm phần trăm rằng tất cả không là hư ảo như trong giấc mơ. Trang Tử có lư (thuần lư luận) khi phân vân không biết ḿnh là Trang Tử mơ hóa bướm, hay ḿnh là bướm mơ hóa thành Trang Tử. Và đó là luận cứ bất khả phi bác (về mặt duy lư luận) của một thuyết duy tâm (idéalisme, nên dịch là duy tưởng th́ có lẽ sát nghĩa hơn), dù là sai hẳn về mặt hiện thực. Vả lại, triết gia Descartes không phải là không có lư phần nào khi nói rằng : cuối cùng sự phán quyết khẳng định về sự hiện hữu của ngoại giới phải dựa vào niềm tin ở sự hiện hữu của Thượng Đế Sáng tạo.

 

Tôi đă đi vào con đường tôn giáo như thế nào ? Măi đến nay vẫn có nhiều thân bằng hỏi tôi như vậy ! Tôi xin cố gắng b́nh tâm trả lời trong mức độ có thể, v́ đó là thuộc lănh vực kín nhiệm cả. Trước hết, có lẽ cần khẳng định rằng tiềm tàng tôi đă có niềm tin vào một cái ǵ (đúng hơn là phải nói một dạng nào đó ít nhiều tính cách huyền nhiệm, siêu việt, tuyệt đối, vĩnh cửu) dẫu chỉ là lờ mờ mà thôi, là Đấng mà b́nh dân gọi bằng ‘Trời‘ hay ‘Bề trên‘ hoặc ‘Ơn trên‘. Điều ấy gọi là cảm thức tôn giáo tự nhiên. Từ cái cảm thức tôn giáo tự nhiên ấy, con người lấy lư trí ḿnh soi rọi để quan niệm hóa. Thường có hai xu hướng : - một xu hướng là đi đến kết quả khẳng định sự hiện hữu của một ĐẤNG TỐI CAO, nguồn gốc của mọi sự, ví dụ như trong Khổng giáo th́ : Vạn vật ban hồ thiên. - Một xu hướng khác là đi đến kết luận phủ nhận sự hiện hữu của một Đấng như thế, mà cho rằng đó chỉ là kết quả những hiện tượng tâm lư xă hội, chính trị, kinh tế, tạo thành một ư niệm hoàn toàn chủ quan, không có hiện thực, mà ánh sáng của lư trí, nhất là của cái gọi là khoa học sẽ đánh tan như ánh sáng phá tan mây mù.

 

Tôi thuộc về xu huớng tin có Trời (một ông Trời chưa được quan niệm hóa rơ ràng), từ đó được củng cố thêm qua tư tưởng của Khổng giáo, nhất là qua trung gian của hệ thống luân lư : Đạo Trời, Lẽ trời, Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân, quan niệm ấy gán cho Đấng Tối Cao ít nhiều yếu tố của một ngă vị cụ thể, nhưng đôi khi được coi như một Nguyên Lư phần nào vô ngă (nói chung khá hàm hồ : ngiêng về phía hữu thể hữu ngă hoặc vô ngă, có lẽ tùy tâm trạng và hoàn cảnh mà yếu tố cảm tính hay yếu tố lư tính chiếm phần lớn). Một Tín Niẹm nữa là : con người là ‘Linh ư vạn vật’; Từ ngữ ’Linh‘ ở đây cũng có cái ǵ hàm hồ như chữ ‘Trời’, không hẳn rơ ràng là con người có linh hồn bất tử; nhưng là một cấp hữu thể cao hơn súc vật, có trí khôn, có lương tâm, biết phân biệt các giá trị sai đúng, xấu đẹp, thiện ác và cũng tiềm tàng một cái ǵ đó sẽ c̣n lại sau khi chết : ‘sinh kư tử qui’, ‘thác là thể phách c̣n là tinh anh’, ‘hương khói phụng thờ’. Tất cả những cái ấy là hạt nhân thừa kế từ ông cha lâu đời, từ những vi tử bản thân, tuy không thành một hệ thống minh bạch chặt chẽ nhưng đă chi phối suy nghĩ, cảm tính và hành vi của tôi. Lớp trí thức Tây Phương tư sản chỉ là lớp học vấn mỏng và cạn thuộc về lư trí. Cái khí quyển tương quan liên ngă vị của Kitô Giáo nói trên th́ chỉ mới là một cái ǵ bàng bạc, cũng ví như một thứ hương ướp dần, một thứ hơi nước ngấm dần, chứ chưa kết tụ. C̣n những ǵ thuộc về Lăo giáo và Phật giáo th́ cũng chỉ như áng mây, làn gió lăng đăng phiêu diêu tô điểm cho cảnh sắc nội tâm mà thôi. Chính cái hạt nhân cùng với lớp vỏ dầy, mỏng, nông, sâu ấy tạo nên một nhân sinh quan, mà tôi đă sống trong hiện thực của gia đ́nh và xă hội trước năm 1945, đem lại một sự ổn định quân b́nh nào đó cho cái chàng trai 20 tuổi, c̣n nuôi nhiều ước vọng và hoài băo tươi đẹp, nói chung là đáng phấn khởi. Cách mạng 45 như là luồng gió mạnh, làn sóng cuốn đi tất cả đối với một số tâm hồn ở vào t́nh trạng như tôi, th́ cách mạng sau khi đă quét sạch ngôi nhà cũ, đă đưa họ vào một ngôi nhà mới rất nhiều giá trị, và họ đă hết ḿnh đi theo như một con đường sống (một bài xă luận của anh Viện tôi nhan đề ‘từ Khổng Giáo đến chủ nghĩa Mác-xít’ nói lên khá rơ ràng việc này), mà tôi nghĩ như vậy cũng là phải, là dễ hiểu. Chủ nghĩa Mác-Xít vơí tổ chức Đảng Cộng Sản, vơí lư tưởng độc lập và công bằng xă hội, quả đă đem lẽ sống cao đẹp cho bao thế hệ thanh niên đáng kính mến, một điều cũng đáng mừng : bao nhiêu tâm hồn đă t́m được ở đó một ư nghĩa cao đẹp cho cuộc đời và cống hiến đời ḿnh cho sự nghiệp lớn lao. C̣n tôi th́ khác hẳn. Tôi đă được mở đường tiến thủ vơí đường lối chủ trương của Mặt trận Việt Minh dành cho những người thuộc thành phần xă hội như tôi. Bởi đó, tôi chẳng có ǵ phải chống đối, phản lại như các đảng viên thuộc các đảng chính trị đối lập thời đó, trái lại tôi thấy có nhiều điểm tương đồng với chủ trương của Cách Mạng, nhất là về mặt độc lập dân tộc, và tôi cũng được sự thông cảm của nhiều cán bộ mà tôi rất kính mến (và tôi vẫn giữ nguyên ḷng kính mến cho đến trọn đời). Tuy nhiên, tôi vẫn thấy h́nh như lạc lơng bơ vơ trong những ngày giờ hoạt động trong hàng ngũ đội Tuyên truyền Xung phong. Sự sụp đổ của một chế độ cho tôi thấy tính cách thời biến của cuộc đời : th́ ra ở đời không có cái ǵ là trường tồn, vĩnh tại. Quá khứ đă vậy, th́ hiện tại tương lai cũng vậy thôi ! Tôi không có ǵ tiếc nuối cái quá khứ ấy, v́ vậy cũng không bao giờ có ư nghĩ tham gia những phong trào phản động ḥng khôi phục quá khứ. Hơn nữa sau khi cụ Phan qua đời, người Cách Mạng số một đối với tôi vẫn là cụ Nguyễn Ai Quốc : do đó tôi cũng không tin vào một vị lănh tụ nào khác, ḥng t́m một con đường mới hay hơn đường lối do mặt trận Việt Minh đề ra. Và dần dần trong tâm tư càng đậm nét cái quan niệm này : ở trần gian, mọi sự đều chóng qua, đổi dời và tương đối; thế mà ḷng tôi vẫn hướng về một cái ǵ vĩnh cửu, tuyệt đối, trường tồn. Trong khi đó th́ dù thế nào đi chăng nữa, cuối cùng vẫn có người đau khổ, vẫn có người không tốt ! Nói một cách khác : vấn đề tội lỗi và đau khổ của nhân sinh muôn thuở được đặt ra vượt mọi khuôn khổ kinh tế, chính trị, văn hóa, xă hội của bất cứ thời nào và nơi nào. Những vấn đề triết học mà tôi chỉ học một cách lư thuyết suông trong chương tŕnh ban triết lư, những vấn đề nhân sinh mà tôi chỉ cảm xúc suông qua các tác phẩm văn chương, nay thực sự đặt ra cho tôi trong chính bản thân tôi. Đời là vô thường, là bể khổ, mọi sự đều là phù vân, đối với tôi lúc ấy không c̣n là đề tài triết lư văn chương nữa mà là hiện thực cụ thể. Sự vui mừng làm người dân độc lập, sự vui vẻ sinh hoạt với anh chị em trong đội Tuyên truyền không đủ lấp đầy khoảng trống trong tâm hồn tôi. Tôi không hề luyến tiếc quá khứ, ngoại trừ có chút ít tiếc là không được tiếp tục con đường học vấn (tuy nhiên anh chấp ủy Việt Minh Hà Tĩnh lúc bấy giờ có xác quyết với tôi rằng thế nào rồi cũng có những chủ trương cho những thanh niên như tôi được tiếp tục trau dồi kiến thức để đào tạo nhân tài. Tôi tin vào lời ấy, và quả thực, số đông anh em trừ những anh em chọn con đường binh nghiệp hoặc chính trị (và những anh em này về sau cũng được trau dồi thêm về văn hóa), hầu hết những thanh niên có tŕnh độ thành chung, tú tài, sau này đều được tiếp tục học hành trở nên những chuyên viên thuộc mọi ngành, đều có tŕnh độ văn hóa cao.

 

Cho nên, xét cho cùng, không phải v́ sự bất măn cá nhân hay gia đ́nh mà tôi rẽ sang hướng khác, mà thực sự tôi đă được ơn thấy rơ : h́nh như cứu cánh cuộc đời không phải ở nơi trần gian sẽ qua đi này, mà ở một nơi nào khác. Lại có hai sự kiện làm cho tâm trạng tôi càng thêm đậm nét : 1. Sức khoẻ của tôi bị giảm sút v́ chứng đau dạ dày mà tôi mắc phải năm 44, tái phát khá nặng; 2. Sự tan vỡ của chính phủ liên hiệp do sự ra đi của cụ Nguyễn Hải Thần … Như trên kia đă nói ngoại trừ ḷng ao ước độc lập của dân tộc ra, tôi chưa hề có một quan niệm chính trị nào đối với vẩn đề xây dựng đất nước Việt Nam sau khi độc lập cả ! Ḷng tôn kính với cụ Nguyễn Aí Quốc là do ḷng kính mến đối với cá nhân cụ chứ không phải là do đă hiểu và theo lư tưởng Cộng sản mà cụ đă đem lại. Tôi hoàn toàn không đặt vấn đề ấy, chỉ mong sao độc lập đă mọi chuyện tính sau - cho nên tôi khao khát thấy tất cả những ai có ḷng muốn đuổi Tây ra khỏi Việt Nam đều đoàn kết lại kháng chiến đă. Sự phân rẽ, mà lúc ấy tôi cho rằng do ư thức hệ gây ra làm tôi buồn và chán ngấy, tôi lo ngại sẽ đi đến chỗ huynh đệ tương tàn, chứ tôi không hề có ư kiến ǵ đối với vấn đề ư thức hệ. T́nh trạng chia rẽ ấy làm tôi buồn, và v́ tôi không nghiêng về phía nào cả, nên tôi chỉ muốn rút lui đứng ngoài, khác nào như đứa bé thấy người lớn trong nhà xích mích, không bênh ai không lên án ai chỉ lặng lẽ rút lui đi chỗ khác để tránh nỗi buồn phiền. Và từ đó vấn đề chính trị đối với tôi, không bao giờ muốn nghĩ đến nữa. Và càng có kinh nghiệm sống, tôi càng ớn ngấy lánh xa.

 

Thế là nhân v́ bệnh dạ dày tái phát, tôi xin trở về nhà chuyên chữa và an dưỡng. Sau vài tháng thuốc thang, bệnh thuyên giảm, v́ chưa có bằng tú tài phần II, tôi xin phép gia đ́nh vào Huế chuẩn bị kỳ thi khóa hai năm 1946 do chính phủ Cách mạng tổ chức tại Huế, v́ niên học 45-46 các trường trung học ở Huế vẫn tiếp tục mở, các kỳ thi vẫn được tổ chức b́nh thường. Thực ra, thi tú tài 2 chỉ là một dịp cho tôi được thay đổi, di chuyển cho thanh thản tâm tư, chứ lúc ấy cũng chảng c̣n ham hố theo đuổi sự nghiệp nữa. Đă học hết chương tŕnh th́ đi thi một cái cho xong. Ở Huế lúc ấy bạn cũ chẳng c̣n mấy ai, v́ phần đông đă đỗ tú tài 2 năm 45 vào khóa thi được chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức sau ngày Nhật đảo chính. Cuối niên học 45-46, tôi vào Huế th́ gặp hai người bạn thân : Anh Phan Văn Đanh người cùng quê vào Huế học sau đảo chính Nhật vẫn tiếp tục ở lại cho đến cuối niên học ấy, và anh Nguyễn Ngọc Cẩn người B́nh Thuận (Cẩn sau này là em rể tôi). Sự gặp lại anh Phan Văn Đanh là một việc có ư nghĩa lớn đối với tôi. Anh Đanh là một tín đồ Phật giáo rất mộ đạo, có đời sống rất đáng kính, đáng mến. Lúc bấy giờ anh được vị sư chủ tŕ chùa Linh Quang ở đầu dốc Bến Ngự, là thượng toạ Thích Trí Thủ, cho tá túc tại chùa để học thi. Tôi cũng được chấp nhận ở cùng trong chùa với anh Đanh. Như trên đây có nói, từ lâu tôi vẫn mến cảnh trí tịch mịch vắng lặng của các ngôi chùa ở Huế, ít nhiều có cảm t́nh với đạo Phật qua trung gian các tác phẩm văn chương. Thời gian ở trọ chùa Linh Quang, trong tâm trạng bơ vơ buồn nản nói trên, tôi trao đổi về đạo Phật với anh Đanh, với một số học tăng ở các ngôi chùa lân cận, và đôi khi cũng nghe vị sư trụ tŕ, là sư Trí Thủ giảng kinh. Nhưng nhất là đôi khi tôi đă vào chiêm bái tượng Phật, lần lần tôi t́m được sự an ủi do những giáo lư căn bản của đạo Phật mà tôi đă tiếp thu được. Cuộc đời tu hành, thoát tục của các vị tăng ni, làm tôi chỉ muốn có cuộc đời như vậy : gác hẳn mọi việc thế trần, nương ḿnh nơi cửa Phật. Thực ra, nơi đạo Phật, tôi chỉ tiếp thu phần tiêu cực, đánh giá cuộc đời thế tục dưới cái nh́n bi quan yếm thế, và muốn sống đời tu hành lánh xa bụi hồng kiểu Thúy Kiều, hay Lan trong Hồn Bướm Mơ Tiên, hoặc Lan trong Tắt Lửa Ḷng, chứ không thâu nhận được mặt tích cực của giáo lư nhà Phật. Thực ra, nói đạo Phật, tôi muốn sống cảnh chùa xa lánh cơi đời, chỉ nương nhờ cửa Phật, chứ không tin vào Phật pháp. Nói chung cách khác, tôi chỉ bị lôi cuốn bởi đời sống cửa thiền chứ không phải tin theo Phật đạo ! Nếu tôi có ư đi tu th́ chỉ là mượn nhà chùa làm nơi ẩn dật, chứ không phải là thực sự trở thành tín đồ của Phật giáo. Tôi chỉ muốn t́m cái hương vị của cảnh sống ở chùa để quên đi những nỗi ưu phiền, để ḿnh ch́m vào một sự u tịch, chứ không phải đă có tinh tấn tu chứng Phật pháp. Đi tu để tránh đời là chính, c̣n cửa Phật chỉ là dạng thức mà bất cứ người Việt Nam nào (ngoài Kitô giáo) hễ nghĩ tới đời tu hành tất là phải liên tưởng đến. Giáo lư nhà Phật đối với tôi chỉ là cái áo tri thức khoác vào một cuộc đời "Tị thế’ mà thôi. Do đó, tôi thực ra đă phóng chiếu cái tâm trạng bi quan yếm thế của ḿnh, khoác cho cái vỏ là phần tiêu cực Phật giáo, chứ không sở đắc phần giáo lư xây dựng tích cực của Phật giáo, (mà phần này mới là cốt lơi của Phật giáo). Phân tích kỹ, tôi thấy nơi tôi chỉ có những cảm thức nhuốm một màu nhàn nhạt của Phật giáo, qua một loại văn chương ít nhiều pha trộn lăng mạn (Sơ kính tân trang, Kiều, Hồn bướm mơ tiên, Tắt lửa ḷng) và một ước mong sống xa lánh việc đời theo cung cách của các nhà chùa, chứ không tiếp thu cái cốt lơi của Phật giáo. Thực ra điều tôi t́m kiếm lúc ấy là đời tu hành chứ không nhắm theo đức Phật t́m đạo giải thoát trong giáo lư của Phật giáo.

 

Từ ngày vào Huế trú ngụ tại Linh Quang mùa hè năm 1946, cho đến quăng năm 1948, tôi là một tâm hồn phiền năo được xoa dịu bởi ḷng từ bi của anh Phan Văn Danh và một số đạo hữu cũng như một vài vị sư, trong khung cảnh tu hành an tịnh của một vài ngôi chùa, với h́nh ảnh tọa thiền trên ṭa sen của đức Phật và bóng dáng dịu hiền của đức Quan Thế Am chứ không lănh hội ǵ mấy về giáo lư của đạo Phật cả. Nhưng lúc ấy tôi cứ tưởng ḿnh là phật tử rồi. Kỳ thi tú tài II, khoá II năm 1946 tại Huế, tôi trúng tuyển : c̣n nhớ đề thi triết là ‘Anh hăy phân biệt triết học với tôn giáo’ kể ra cũng là một sự trùng hợp kỳ lạ với tâm trạng tôi lúc ấy. Vị giám khảo môn triết lư lại là Linh Mục Nguyễn Văn Hiền (lúc đó làm cha sở họ Thừa Lưu, điạ phận Huế, sau này làm Giám mục tiên khởi điạ phận Đà lạt và có lúc là chủ tịch Hội đồng Quản trị Đại học Đà Lạt mà tôi là trưởng ban triết lư).

 

Một kỷ niệm mà tôi ghi nhớ trọn đời là trong thời ở trọ học chuẩn bị thi tại chùa Linh Quang có nhiều buổi chiều lúc hoàng hôn xuống, tôi đă xin chú tiểu nhường cho việc gióng 108 tiếng chuông thu không ngân nga trầm mặc, bên dốc bến Ngự, cách nơi an nghỉ của bậc cách mạng mà tôi tôn kính vô cùng là cụ Phan Bội Châu chỉ độ hơn trăm mét thôi.

 

(c̣n nữa)


 

 

Anh em  67 trên đỉnh Lang Bian, Đà Lạt

 

 

A/C Paul Ka và Rev Trường 69                                                        Từ trái: Bích 65, Vơ 67, Bảy 63, Rev Tuệ, A/C Anh 65, Thắng 67