DỌN ĐẤT CHO HẠT NẨY MẦM

 

(Chia sẻ nhân 35 năm sống, lắng nghe và rao giảng Lời Chúa trong và cho dân Jarai)

 

Mới đây, ông Pêtrô Siu Loach đưa tôi một sấp giấy viết chi chít tiếng Jarai. Tôi hỏi: “Cái ǵ vậy ?” Ông Loach trả lời: “Bản dịch Chầu Thánh Thể của Thánh An Phong”... Đây có thể xem là quyển sách đạo đức đầu tiên do chính người Jarai dịch hoàn toàn để phục vụ cộng đoàn Công Giáo Jarai.

 

1. NHÁC LẠI CHUYỆN CŨ

 

Cách đây 35 năm, ngày 10.10.1969, Đức Cha Paul Seitz lái xe đưa bốn vị: Linh Mục An-tôn Vương Đ́nh Tài, Phó Tế Giu-se Trần Sỹ Tín, Phó Tế Phê-rô Nguyễn Đức Mầu, và Thầy Phê-rô Hồ Văn Quân đến Pleikly, cách Pleiku 60 km về phía Nam, thả họ giữa một ngôi làng người Jarai xa lạ, và trao trách nhiệm đưa người Jarai về với Chúa cho họ. Từ đó nhóm Tu Sĩ DCCT này nhận ḿnh là Nhóm Pleikly.

 

Sau này cha Tín kể với tôi khi đó có một gia đ́nh người Jarai cho lên nhà ở nhờ, nhưng khi ra nước giọt tắm về, th́ họ đă úp cầu thang lên nhà, tức là không cho vào nữa. Các ngài được chỉ đến một trường học bỏ hoang, dê đang ở, để ngủ. Nhưng Thiên Chúa lo liệu, nên không những các ngài không lo sợ, mà c̣n đủ lửa mời thêm được anh em khác lên chi viện là thầy Mác-cô Đàn.

 

Pleikly thời đó là vùng chiến tranh, nên các Thừa Sai gặp rất nhiều khó khăn, nhưng vẫn không thể nhận sự hỗ trợ của Mỹ, dù là các NGO – các tổ chức phi chính phủ – v́ có thể bị Việt Minh cho là kẻ thù. Thái độ cố gắng giữ trung lập của các ngài vẫn không làm yên tâm những người trong bưng, nên họ đă bắt thầy Tín, thầy Mầu và thầy Đàn đem vào sâu trong bưng – bây giờ mới biết vùng bưng đó hiện nằm sâu trong đất Kampuchea. Thầy Mác-cô Đàn đă chết tại đó.

 

Khi được thả về, nhóm Pleikly phải phân tán. Cha Tài ra Pleiku, lập Trung Tâm Maranatha, tiếp xúc người Jarai, hướng dẫn họ rồi mang họ ra Biển Hồ mà Rửa Tội. Thầy Quân chạy về Sài-g̣n, cha Mầu –chịu chức ngay sau khi đến Pleikly độ nửa năm – cùng thầy Tín sang Ayunpa. Ở đây cha Mầu cho biết không trở lại Pleikly nữa. Lúc đó, thầy Tín mới đồng ư lănh sứ vụ Linh Mục, để c̣n lo cho dân. Thiên Chúa đă định th́ Ngài sẽ liệu, nên Ngài lại gởi cha Phán từ Sài-g̣n lên thăm anh em, trước khi đi du học. Lên đến nơi thấy hoàn cảnh quá đặc biệt, cha Phán không nỡ chia tay với anh em, nên ở lại măi cho đến năm 2003 – sau 31 năm – v́ sức khoẻ không c̣n phù hợp với đất này, do đó Nhà Ḍng đă rút ngài về Sài-g̣n.

 

Từ đó cha Tín bắt tay vào dịch Thánh Kinh Tân Ước ra tiếng Jarai, cha Phán giúp chú giải. Cha Tín vẫn hay nói, suốt gần 20 năm – từ 1969 đến 1985 – Chúa chẳng cho làm ǵ ngoài việc dịch quyển Thánh Kinh trong năm 1972, c̣n tất cả những thời giờ c̣n lại là đi ṃ cua bắt óc, cầy cuốc với dân, vào rừng kiếm gỗ làm ḥm, đào mả cho dân, đánh chiêng, hát ḥ nhảy múa và cả nhum tơpai ( uống rượu ) như người Jarai. Và có thể cũng nhờ vậy mà các nhà Thừa Sai được thanh luyện, để rồi từ từ nhận ra truyền giáo là việc Chúa làm trong dân Chúa chứ không phải việc làm của con người, kể cả những người nhận ḿnh là nhà Truyền Giáo.

 

Thời đó, người Jarai sống bó hẹp trong ḍng họ và làng của ḿnh. Gặp nhau ngoài đường chỉ ai thân lắm mới chào hỏi. Khi ai đó hỏi tên th́ họ sẽ không trả lời, trừ khi có người cùng đi theo nói giùm họ.

 

2. CHUYỆN CỦA HÔM NAY

 

Từ ngày Đức Cha Paul Seitz đọc Tin Mừng Lu-ca chương 10, gieo hạt giống Ki-tô trên đất Pleikly đến nay, các Thừa Sai DCCT đang phụ trách hơn 250 làng Jarai trải rộng trên 10 huyện trong tỉnh Gia Lai ( chia cho ba Trung Tâm Pleikly, Pleichuet, Cheoreo-Tơluí ), với ngàn tín hữu Công Giáo Jarai, và 25 Giáo Điểm Giáo Họ người Kinh, với sáu ngàn Giáo Dân. Riêng tại Pleikly-Chưsê, hiện có 9.197 Giáo Dân Jarai.

 

Xin lưu ư đọc giả, trước khi các Thừa Sai DCCT đến Pleikly, vào năm 1907, các Yáo Phu người Bahnar đă theo các Thừa Sai thuộc Hội Thừa Sai Paris truyền giáo cho người Jarai ở sát biên giới Kampuchea, nay thuộc huyện Đức Cơ tỉnh Gia Lai, và năm 1955, cha Jacques Dournes đă đến truyền giáo ở Cheoreo, sau đó DCCT kế thừa.

 

Hiện nay anh em Jarai thuộc pá tring ( bốn vùng ) – Pleikly, Cheoreo, Pleichuet và Chư Tih – đă gặp nhau thường xuyên. Họ đă bắt đầu thoát dần ra khỏi sự bó hẹp trong ḍng họ và buôn làng. Họ đang cùng nhau thống nhất một số ngữ âm để dùng chung cho Phụng Vụ như: “Thánh” nên dùng “Mơyang” hay “Hơchih”; “Tông Đồ” nên dịch sát chữ từ “Apostolos” thành “Pô mơit tui” hay là một chữ khác phù hợp với văn hoá hơn v.v...

 

Nh́n những anh chị em Jarai it học và không quen khoa bảng lại đang làm những việc khoa bảng, không chỉ cho ḿnh mà cho cả dân tộc ḿnh thật đáng kính phục. Các chị đă làm mẹ ngồi lại với nhau bàn chuyện giáo dục con cái làm sao cho chúng đừng mất văn hoá Jarai vừa đúng với những ǵ Chúa Ki-tô dạy. Họ cũng bắt đầu khuyến khích một số em có chí hướng đi tu. Hiện có hai em đệ tử năm thứ hai Ḍng Chúa Quan Pḥng, khoảng 20 em đang t́m hiểu Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân... Riêng nam th́ có vẻ tiêu chuẩn các Ḍng cao hơn nên chưa có người có thể đáp ứng.

 

Người Jarai gặp nhiều khó khăn và thiếu cơ hội trong việc hội nhập với người Kinh, khó khăn này c̣n trở nên rất khó khăn khi nh́n thấy viễn cảnh toàn cầu hoá mà họ cũng phải hội nhập như mọi người. Những đầu tư ngân sách của quốc gia cho Tây Nguyên rất lớn, nhưng những công tŕnh có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển đời sống toàn diện là bệnh viện, trường học, điện nước, giao thông công cộng... thường được đầu tư ở những nơi trung tâm như thành phố, thị xă, thị trấn, mà dân cư của những nơi này hiện nay hơn 80% là người Kinh, nên đối tượng thụ hưởng chính là người Kinh, mặc dù khi hoạch định th́ họ nghĩ là dành cho người thuộc các sắc tộc thiểu số.

 

Đó là chưa nói đến những đầu tư chỉ có người Kinh sử dụng được, c̣n người Jarai nào có thể trở thành người Kinh được th́ mới được hưởng là những chương tŕnh văn hoá giáo dục như sách báo phổ biến kiến thức khoa học, văn hoá và xă hội chỉ toàn bằng tiếng Kinh. Chỉ những ai biết tiếng Kinh rành rẻ mới sử dụng được.

 

Nhân đây tôi dài ḍng kể một mẫu chuyện cười không nổi như sau : một người Jarai nghe người Kinh nói “tuyệt diệu”, nhưng không hiểu nên đi hỏi một ông người Bắc mới di cư vào. Ông Jarai nói : “diệu” th́ tôi biết rồi, v́ tôi vẫn thường nghe ông nói “diệu đế” – người Bắc thường đọc chữ “R” thành chữ “D” và âm “ƯƠU” thành “IÊU” – C̣n “tuyệt diệu” nghĩa là ǵ ? Đây cũng là trường hợp nhiều từ tiếng Latin, Anh, Pháp, Đức... không có từ thuần Việt tương ứng, nên t́m từ Hán Việt để dịch, nhưng sau đó không c̣n nhớ thừ gốc, đến khi phân tích cứ mang từ Hán Việt ra phân tích với đủ thứ nghĩa, mà sự thật từ nguyên gốc có nói như vậy đâu.

 

Trở lại chuyện sách vở, ngay khi có dịch các sách báo ấy ra tiếng Jarai th́ cũng chỉ có chỉ có người Công Giáo Jarai và cán bộ học tiếng Jarai để làm dân vận mới đọc được, c̣n đại đa số không thể đọc được, v́ từ bé các em Jarai đă phải học viết và đọc tiếng Kinh, nên có thể em vẫn nói tiếng Jarai, nhưng không thể đọc chữ Jarai. Nhưng như chúng ta đă biết, một dân tộc bị mất ngôn ngữ th́ nguy cơ đồng bị hóa là 100%, và nguy cơ tiệt chủng cũng rất cao. Nhưng dù sao các thừa sai vẫn cứ phải khuyến khích con cái người Jarai đi học, dù không được học tiếng mẹ đẻ, dù không hiểu được như người Kinh. Hiện nay cũng có được một số em học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, vài trăn em học cấp ba, vài ngàn em học cấp hai và cấp một th́ đông hơn.

 

Trong các làng, họ tổ chức cầu nguyện, dạy Giáo Lư cho Dự Ṭng trẻ em và hôn nhân. Một dấu hiệu rơ nhất để biết đời sống đạo, đó là làng nào duy tŕ cầu nguyện chung hàng tuần, th́ đời sống tràn đầy niềm vui, ngay cả những lúc hoạn nạn, bắt bớ cũng có thể tạ ơn. Nhưng làng nào lơ là việc cầu nguyện, th́ thế nào trong làng cũng có rối ren và sẽ có người bỏ Giáo Hội.

 

Một người Kinh từ Sài-g̣n lên trên này chơi ngạc nhiên hỏi: Tại sao người Jarai thích bắt tay và lam quen vậy ? Thật ra đây là dấu hiệu rơ ràng có Chúa Giê-su Ki-tô ở với họ, chứ tự thân họ là những người khép kín, không muốn làm như vậy đâu.

 

Sau 35, cùng với gia đ́nh Giáo Phận Kotum truyền giáo, Tu Viện DCCT đă thành h́nh tại Pleichuet. Hiện nay ở nơi đây đang xây dựng ngồi Nhà Thờ theo kiểu dân tộc cho người Jarai đầu tiên ở Pleiku. Công tŕnh đang cần nhiều sự giúp đỡ.

 

3. CON ĐƯỜNG ĐANG ĐI

 

Cùng với cả Giáo Phận Kontum, người Jarai đang dấn thân vào công cuộc truyền giáo và truyền giáo bắt đầu từ gia đ́nh. Có một lần chúng tôi được đi cùng với Đức Giám Mục Giáo Phận đến một Tu Viện nữ. Vào Nhà Nguyện, thấy đặt Thánh Giu-se bên trái và Đức Mẹ bên phải bàn thờ – đa số mọi Nhà Nguyện, Nhà Thờ đều làm thế – Đức Giám Mục bảo D́ Bề Trên: “Sao tách hai ông bà ra vậy. Vợ chồng phải ở chung với nhau chứ !” Có thể đó là một câu nói vui, nhưng cũng rất đáng cho chúng ta suy nghĩ. Hiện nay chúng ta chú ư nhiều đến từng giới riêng biệt: giới ông, giới bà, giới trẻ, giới thiếu nhi...

 

Rất hiếm một gia đ́nh cha mẹ và con cái cùng đi lễ và cùng ngồi chung với nhau. Người Jarai trước đây đi rừng cũng vợ chồng con cái đi chung với nhau, làm rẫy cũng như vậy, đi thăm viếng ai cũng cả gia đ́nh. Nhưng hiện nay cũng bắt đầu theo người Kinh giới hiền mẫu, giới hiền phụ, giới trẻ tách biệt trong những ngày sinh hoạt riêng của giới ḿnh. Khi về nhà cùng là bận tâm việc chung của Giáo Hội, nhưng bà nghĩ khác ông, con cái nghĩ khác cha mẹ không chỉ về hoạt động hay sáng kiến, mà cả đường hướng. Nhất là trong mỗi giới đôi khi lại có một số chuyện riêng chỉ nói trong giới ḿnh gọi là “bí mật” riêng, lâu ngày có thể tạo ra t́nh trạng “đồng sàng dị mộng” nguy cơ đổ vỡ gia đ́nh, mà chúng ta lại cứ ngỡ ḿnh đang t́m cách xây dựng gia đ́nh. Cám ơn Chúa cách đây năm năm, trên Pleikly này mới bắt đầu có mô h́nh các gia đ́nh cùng cầu nguyện, nhưng hiện nay chỉ mới có cha mẹ tham gia, c̣n con cái th́ chưa quan tâm.

 

Khi Hạt giống Ki-tô được gieo vào đất Jarai, th́ đất không bị cây Ki-tô hút cạn kiệt màu mở, mà đang tái tạo lại đất ḷng người. Nhắc lại lời của Ama Phu mà tôi đă có dịp nào đó nói – Ama Phu là một viên chức chế độ trước, được Rửa Tội trong trại cải tạo. Khi ra trại, ông thấy cảnh gia đ́nh rối ren, nên bỏ đạo và đi lêu lỏng. Trong lúc say mèm với ma men, ông đă được Chúa Giê-su Ki-tô cứu một lần nữa. Từ đó ông trở về phụng sự Chúa – “Chính ḍng giống Ki-tô đă cứu sống ḍng giống Jarai”.

 

Nhờ Phụng Vụ Jarai sử dụng nhạc khí Jarai, trong Nhà Thờ, tại tư gia khi ma chay cưới hỏi và tại nhà mả trong những lễ nghi pơthi pơsat, đă thúc giục anh em Tin Lành sử dụng lại Kong chinh, mà họ đă bỏ. Thấy dân có đạo vui vơi nhạc khi như vậy, những người lương bắt đầu dùng lại, và các lễ hội do nhà nước tổ chức về kong ching cũng chỉ mới độ chuc năm nay thôi.

 

Nhờ Bí Tích Thánh Thể, người Jarai sống lại giao ước nhận cha mẹ nuôi, con nuôi, anh chị em kết nghĩa. Họ trở nên ruột thịt khi kết nghĩa như Ki-tô hữu trở nên Thân Ḿnh Chúa Ki-tô khi cùng thông chia “Một Bánh”.

 

Tuy nhiên trong mục vụ liên quan đến hôn nhân hoặc vấn đề tranh chấp có yếu tố “arang toai” – dân ngoại – th́ cũng đang gặp khó khăn. Phong tục Jarai không cho phép người có cùng họ lấy nhau – ví dụ Rosalima Siu h’ Lim và Paolô Siu Nang không được lấy nhau – mặc dù xét về họ máu hai người cùng họ đó chẳng liên quan ǵ nhau. Ngày xa xưa có thể do người Jarai quá ít, nên những người chung họ rất gần với nhau, nhưng với hơn 4.000 năm tồn tài của dân tộc, và chỉ với 7 họ chính, 3 họ phụ th́ chắc chắn có nhiều người không thân thuộc ǵ với nhau, mà vẫn mang cùng họ.

 

Trước đây khi có sự việc như vậy, phải nhờ pô phat kơđi xử kiện. Người xử sẽ theo hướng người mời xử. Nếu không muốn lấy nhau th́ sẽ phạt nhẹ tuỳ theo thiệt hại mà người định phối ngẫu bị, c̣n nếu muốn tiến đến hôn nhân th́ phải nhận h́nh phạt rất nặng. Đối với làng, phải làm một con trâu tế thần, sau đó cả làng sẽ ăn, v́ cưới nhau như vậy là ô uế. Sau đó, nếu trong làng có ai có nuôi voi th́ phải cúng trầu, để voi họ khỏi phải chết. Riêng hai người phối ngẫu v́ bị kết tội là “guam” – loạn luận – th́ phải chúi đầu vào máng cám heo ăn ngay trước mặt làng, v́ theo người Jarai xưa chỉ có heo mới phối giống với người cùng họ. Rồi hai người phải lội qua một ḍng suối, cởi bỏ hết quần áo như một h́nh thức tẩy uế.

 

Từ đó trở đi việc đám cưới của họ là hợp pháp, có ai bệnh tật trong làng hay chết bất đắc kỳ tử, họ không phải chịu trách nhiệm. Đối với những gia đ́nh giàu có th́ những h́nh phạt này có thể vượt qua được, nhưng số đó quá ít. Từ ngày xưa, những đôi trai gái này đă phải đi bán thân làm nô lệ cho người Jarai bên Lào để lấy trâu cúng đền cho làng, để được ở với nhau.

 

Xét theo Luật Hội Thánh, họ được lấy nhau, nhưng với tục lệ Jarai họ không được lấy nhau. Chuyện này thật không dễ. Nếu cứ theo Luật Hội Thánh mà cho phép, th́ những người Jarai chưa theo Đạo sẽ cho rằng người theo Đạo sống như... heo với nhau mà thôi ! Rồi trong tâm thức của đôi vợ chồng trẻ cứ luôn luôn mang trong ḿnh mặc cảm tội lỗi, và nhất là khi trong làng có việc ǵ xấu xảy ra, chẳng cần họ bắt đền, chỉ cần ánh mắt kết án của họ đổ dồn vào cũng làm cho cặp vợ chồng đó khó sống. C̣n nếu theo tập tục Jarai th́ buộc phải... “chia lan rẻ thuư” rồi.

 

Hiện nay một số trưởng cộng đoàn chủ trương đứng ra giữa Nhà Thờ xin lỗi công khai trước cộng đoàn và xin cộng đoàn tha lỗi là được. Nhưng điều này có vẻ không làm các đôi Hôn Phối yên tâm, v́ người bắt lỗi thường là người chưa đi Đạo. Vả lại theo Luật Hội Thánh họ đâu có mắc tội ǵ đâu trong việc này mà phải xin lỗi công khai.

 

Tạm thời hiện nay, cha Tín để cho làng giải quyết trước với nhau về chuyện này, nếu cần phải cầu cúng thần linh th́ ngài sẽ dâng thánh lễ cầu phúc cho dân nơi Vị Thần Tối Cao là Thiên Chúa – Ơi Adai. C̣n nếu làng đ̣i ăn th́ nên cho họ ăn, nhưng phải nói trước với họ về khả năng của ḿnh chỉ đón đó nên làm đến đó mà thôi.

 

Người Jarai theo Chúa Ki-tô ngày nay, cũng có phần giống tổ tiên người Kinh khi mới theo đạo. Họ rất dễ mặc cảm ḿnh đă phản bội lại tổ tiên, giống ḍng ḿnh, nhất là nhiều cán bộ lại hay nói trước đây người Jarai đâu có đạo, có đạo là theo Yuan – người Kinh – mất rồi. Nhưng những người theo Chúa Giê-su Ki-tô thật sự họ đă trả lời lại chúng tôi đi theo Ơi Adai, Pô Kơdrưh, Pô Pơtlaih – Thiên Chúa, Đấng làm chủ mọi sự, Đấng giải thoát – chứ không theo con người. Cám on Chúa, v́ Thần Khí Người đang ở với họ, để họ dám tuyên xưng và lấy mạng sống ḿnh làm bảo chứng cho người nghe. Nhờ vậy, số người dự ṭng vẫn tiếp tục gia tăng ở các vùng.

 

Sau 35 năm, cánh đồng vẫn c̣n nhiều lúa chín, nhưng cũng bắt đầu thấy cỏ lùng xen vào và những tảng đá ong nằm đè trên mặt đất không cho hạt giống nẩy mầm, mà một vài người chắc chắn không tài nào bẩy ra chỗ khác nổi.


Pleikly, Khánh Nhật Truyền Giáo, 2004, AN THANH, DCCT

(EPHATA số 191,ngày 7.11.200


 

   

Anh em CVK-BMT quanh mộ anh Hạnh OP. Lễ giỗ 1 năm                   Sỹ 64, Rev Úy 65, Thạch 60

  

A/C CVK-NT kỷ niệm 25 năm hôn phối                                      A/C QuangTtrung 62 thăm cha Faugère.

   

                                                                      Anh Vũ Văn Quư 64