THÁNH GIÁM MỤC THỂ (tiếp theo kỳ trước)

 

 


 

10

MỘT CUỘC KHỞI HÀNH MỚI


Năm 1841, Cộng Đồng ở G̣ Thị (B́nh Định) do Đúc Cha Cuénot triệu tập đánh dấu một cuộc khởi hành mới đối với giáo hội Nam Kỳ. Đức Giám Mục đă lợi dụng thời gian ngừng bắt đạo. Các quan lại tỏ ra tởm lợm cuộc sát sinh đó. Phía các thừa sai nhận thấy anh chị em lương dân có thái độ cởi mở hơn đối với đức tin và sự chín chắn nơi người Kitô hữu. Cộng đoàn Kitô giáo ở đây đă được rèn luyện suốt 10 năm chiến đâu. Chiến thuật của Đức Giám Mục Cuénot thật rơ ràng: không run rẩy ẩn ḿnh nhưng can đảm tiến bước để công khai loan báo đức tin. Mặc đù từ ngữ được Ngài sử dụng có vẻ nhập nhằng: ‘Tinh thần tuyển mộ (tân ṭng) đă trở nên thói quen của tân ṭng đến độ được họ xem như một điều mà mọi tín hữu phải thực hành nếu muốn đẹp ḷng Chúa". Trong những lần dạy dỗ công khai hoặc riêng tư, Giám mục luôn trở về với điểm nầy. Những ai v́ bị tra tấn mà xuất giáo, nếu muốn chuộc lại những yếu đuối của ḿnh, sẽ nhận đưa một vài người lương nhập Đạo để làm việc đền tội. Mỗi tân ṭng "đóng góp" đưa người khác nhập đạo hoặc rửa tội cho các em bé hấp hối. Một bằng khen đưa đẩy các họ đạo thi nhau đưa người trở lại Đạo. Đức Giám Mục đă xin Toà Thánh ban cho một ơn đại xá cho ai đă góp đưa 10 người lương trở vào Đạo hoặc rửa tội cho 10 trẻ em sắp chết. Mọi phương tiện đă được Ngài vận dụng để tăng trưởng một cộng đoàn đang tàn lụi. Đúng ra năm 1841, Giáo phận Nam Kỳ bao gồm 80 80000 bổn đạo. Nghĩa là so với năm 1830, đă tăng 15000 người, chưa kể đă có một số chết trẻ do khí hậu, ôn dịch hoặc tử đạo. Hàng Giáo Phẩm năm 1841 bao gồm một Giám mục đại diện tông toà, 7 thừa sai và 30 linh mục bản xứ.

 

Cái chết của Gám mục Taberd ngày 31 tháng 7 năm 1840 đă trao cho Giám Mục Cuénot trọng trách của một đại diện tông toà. Theo gương vị Giám mục đàn anh, Đức cha Gabriel Dufresse tử đạo bên Trung Quốc năm 1815, Ngài đă triệu tập Cộng đồn G̣ Thị (Synode = cùng đồng hành). Có nhiều điều tương tự trong cai quản của hai vị mục tử này. Năm 1823, ở Setchoan, Giám mục Dufresse đă triệu tập Công Ddồng (14 linh mục) "để qui định những điều chính yếu chung quanh việc ban phát bí tích và cách hành xử của các thừa sai". Năm 1822, Rôma đă khen ngợi Hội nghị đó và giới thiệu cho các thứa sai noi theo. Kéo dài các khoá họp là điều rất nguy hiểm, nên hội nghị chỉ đề ra những vấn đề mục vụ cấp bách nhất: CÁC BÍ TÍCH (ví dụ Phép Rửa cho lương dân; việc hứa hôn các em từ bụng mẹ giữa hai gia đ́nh theo tập tục của người Trung Quốc …), đời sống cá nhân của linh mục (đời sống cầu nguyện, sự dè dặt ǵn giữ đối với bổn đạo, đặc biệt đối với phụ nữ phải tính đến cả những nghi ngờ cùng những vu khống được dư luận phổ biến …), việc chấp nhận một con đường trung dung để áp dụng những nguyên tắc luân lư.

 

Giám mục Cuénot lấy lại lược đồ đó. Đọc lại một vài kết luận của Cộng Đồng G̣ Thị, quả không phải là không lư thú. Chúng định vị cho Giám mục Cuénot trong hoạt động mục vụ của ḿnh vào thời đó:

 

Nếu một người lương xin gia nhập đức tin, phải tiếp nhận người ấy một cách nhân hậu, hỏi han về những nguyên nhân đưa tới sự trở lại, thăm ḍ tâm trạng của đương sự, và nếu xét là thuận lợi, có thể đứa vào số dự ṭng, dạy dỗ cho biết đạo lư và đời sống Ki tô giáo dựa vào những ai có trách nhiệm lo việc ấy nhưng đừng làm họ nản chí ví phải chờ đợi quá lâu.

 

Có thể rửa tội, hoặc các trẻ em trưởng thành khi chúng yêu cầu, thậm chí khi cha mẹ chống đối, hoặc một người vợ ngoại giáo với điều kiện bà này có khả năng sống đời Ki tô giáo với người chồng chưa trrở lại và hứa sẽ dạy dỗ con cái theo những nguyên tắc Đức Tin trong chuẩn mực đức thận trọng cho phép.

 

Nói chung không nên kéo dài thử thách đôi vôi những người hơn 40 ngày, sợ họ nản chi và tước đi của họ những ân sủng rất dồi dào của các Bi tich. Chi có thể kéo dá một năm đôí với những người ương ngạnh, vụ lợi, những ai khi bị bách hại có thể thiếu vững vàng và kiên tri.

 

Phải hết sức kin đáo khi nhận Rửa Tội chocác thang niên, nhất là khi họ giàu có và học Đạo để lấy vợ Đạo. Kinh nghiệm cho thấy là họ không bền đỗ. Do đó, cần thử thách lâu hơn. Và nế đó là những người con cả, có nhiệm vụ thờ cúng ông bà cùng hương hỏa, thi chỉ nên chấp thuận sau khi họ đă từ bỏ cá tài sản ấy.

 

Trong trường hợp hoài nghi về chủ ư ngay lành của những thanh niên đó, th́ tốt hơn cất đi cho người chồng tương lai sự ngăn cản v́ lư do khác đạo, nế có những lư do đầ đủ để làm như vậy, điều mà các bề trên được hỏi ỳ kiến sẽ xét liệu.

 

Để có thể tạo điều kiện cho một số trẻ em ngoại giáo đang hấp hối được ơn cứu rỗi đông hơn, lựa chọn trong mỗi họ đạo những phụ nữ nhân đức biết cách Rửa tộivà nghệ thuật đỡ đẻ, cho phép họ len lỏi vào trong các gia đ́nh và cũng cùng mục đích đó, trong các nơi công cộng (bệng viện) cần với tư cách là y sỹ, biết rơ "bệnh’ trẻ em.

Chúng tôi dứt khoát chỉ thị cho tất cả những ai thuộc quyền chúng tôi coi sóc phải loại khỏi việc tế tư, bất cứ việc ǵ mang vết tích của bốn con vật dị đoan: rồng, sư tử, rùa và loan phượng được gán cho một quyền phép nào đó, và h́nh tượng được dùng để trang hoàng chùa chiền và các ngôi mộ tổ tiên.

Chúng tôi cho rằng mỗi năm vào ngày 2 tháng 11, tất cả các linh mục coi sóc linh hồn nên long trọng dâng một lễ cho những người thuộc truyền bá đức tin đă qua đời, nếu cơ thể được.

Hỏi han những tội nhân tùy nhu cầu, tuổi tác, sự dốt nát, nhút nhát của họ, ân cần nhưng thận trọng, thậm chí ngay cả như họ không có yêu cầu gặp linh mục, cũng đă không sống theo đạo, v́ có thể phỏng đoán rằng trong nguy hiểm bị sa hoả ngục, họ trốn bằng mọi cách.

 

Hăy ban những việc đền tội thực sự có khả năng chữa trị ví dụ thăm viếng bệnh nhân, bỏ một chuyến dạo chơi, nhịn một thứ xa xỉ nào như thuốc lá, trầu, ăn chay một ngày nào, đọc một kinh nào tay giang ra theo h́nh Thánh Giá, hoặc qú gối, đọc đoạn sách đó, v.v…

 

Cố gắng nhận ra những thanh niên sốt sắng, nhân đức và có tài năng, có khiếu và ưa thích học hành để tăng thêm số chủng sinh… Nhưng nên đề pḥng những thanh niên tự ư đén xin gia nhập hay bị ngơ vực họ trốn quân dịch, công việc nặng nhọc hoặc nếp sống nghèo khổ.

 

Cố gắng đ̣i cho được tiền thách cưới của chàng rể [?] tương lai đối với nhà gái (16) không quá cao. Nếu lấy lễ nặng quá phải hoăn lại ngày cưới đôi khi rất tai hại.

 

Cấm các linh mục lo về trồng trọt, săn bắn, tham gia bất cứ tṛ chơi nào. Tất cả những việc đó không thích hợp với người có chức thánh. Chúng có thể chi phối công việc của họ và làm cho nhiều người vấp phạm.

 

V́ yêu đức nghèo khó, họ phải bằng ḷng với cái ăn, cái mặc và tránh trở nên gánh nặng cho các tín hữu: Hăy tha cho họ những ǵ mà nhu cầu không đ̣i buộc, tất cả những ǵ vượt ra ngoài đức tiết độ, hoặc làm quà cáp, hoặc là tiệc tùng.

 

Trong những lần thăm viếng các xứ đạo, mỗi ngày họ phải tụ tập các tín hữu mà dạy dỗ. H́nh thức dạy bổn kinh là lợi ích hơn cả cho những dầu óc thất học.

 

Buộc không nên làm cớ vấp phạm cho bất cứ ai, họ phải tránh ngay cả hiện tượng của điều ác xấu. Trong các lần

kinh lư, họ phải tránh cả sự chào hỏi của phụ nữ không có chồng cùng đi.

 

Mỗi năm họ phải báo cáo về sự cai quản của ḿnh bằng cách trả lời các câu hỏi mà Công Đồng Setchoan đă ấn định.

 

Khi đọc những điều khoản trên, chúng ta hơi ngạc nhiên về tầm quan trọng dành cho kỷcương bên trong Giáo Hội và hiểu được sự cởi mở mà Công Đồng Vaticanô II đă dề nghị. Tư duy Thần Học ở Châu Á rơ là mới mẻ, nhưng phát triển nhanh chóng. Đi xa hơn sự thích nghi, các thần học gia toan nối lại nhịp cầu đối thoại với các tôn giáo ngoài Ki tô giáo. Đức Ki tô là trung gian duy nhất nhưng các Ki tô hữu phải "lấy làm sung sướng và kính cẩn mà khám phá ra những hạt giống Lời Chúa đang tiềm ẩn trong họ" (Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo hội, số 11).

 

Công Đồng G̣ Thị đă diễn tiến mà không gặp rắc rối ǵ, nhờ vào sự ân cần trung than2h của các Ki-tô hữu. "May phước –như linh mục Miche, Giám mục tương lai của Cam Bốt đă viết – là không cầu thường xuyên tái diễn lại những chuyện phi thường như vậy, v́ chúng ta sẽ không bắt đầu lại mà không hề hấn ǵ, ngoài một sự quan pḥng hết sức đạc biệt". Một bức thư chung đă gởi đến các cộng đoàn.

 

Ba tháng sau cộng đoàn G̣ Thị, vào tháng 8 năm 1841, Đúc Giám Mục Cuénot phong Giám mục cho linh mục Đôminicô Lefèbvre, làm Giám mục phó với quyền kế vị của Ngài.

 

Năm đó kết thúc mà không gặp nguy hiểm, như bức thư Ngài gửi cho "bố và cô thân yêu" đă là bằng chứng:

"Cuộc bách hại tiếp tục nhưng ít ác liệt hơn thời gian qua. Ở Nam Kỳ chúng con c̣n ba vị thừa sai đang ngồi tù. Cũng có ba người gia trưởng đang ở tù và trong ngục tối hai năm nay. Người ta đă hơn ngh́n lần đề nghị trả tự do cho họ nếu họ chịu dẫm lên Thánh Giá, nhưng họ từ chối và yêu cầu các vua quan chặt đầu họ. Họ không ước mơ ǵ hơn là chết cho Thiên Chúa và ĐẠo Thánh. Những người cha gia đ́nh nầy, có vợ có con, những người Nam Kỳ nầy gần như chưa văn minh, rồi đây chẳng làm cho người cha gia đ́nh bên Pháp hổ thẹn đó sao, khi những người nầy ngại ngùng phải chịu một cái ǵ cho Chúa. Chúng con cũng c̣n một linh mục và một người cha gia đ́nh khác cũng thuộc đơn vị truyền giáo ở đây đang ngồi tù ở Bắc Kỳ, bị bắt năm ngoái cùng với vị thừa sai mà họ đem tới cho chúng con. Họ đau khổ nhiều … họ bị án tử h́nh, nhưng ngày hành quyết bị hoăn lại. Có lẽ bố và cô nghĩ rằng con đang rũ tù hoặc đă bị tử đạo cũng nên, nhưng con không xứng đáng lănh một ân huệ lớn lao như thế. Trước đợt bách hại, chúng con tất cả là 11 thừa sai ở Nam Kỳ; vậy màtất cả đă đi vào cơi sống vĩnh cửu, năm vị bằng tử đạo, bốn vị qua cái chết , một vị c̣n sống nhưng ở nước ngoài, và c̣n mỗi ḿnh con trên chiến trường. Sức khỏe con không tốt lắm v́ con nhiều việc quá, nhưng con rất bằng ḷng và con không đổi vị trí của ḿnh lấy ngai vàng của cà thế giới. Những người ngoại giáo bắt đầu trở lại; con hy vọng rằng sẽ rửa tội cho từ bốn đến năm trăm ở đây và ít nhiều ǵ các linh mục khác cũng vậy. Dân ngoại khônh khó ḷng trở lại, nhưng dễ hơn là phần lớn các ngứ tội lỗi bên Pháp. Bố với cô đừng quên rằng chúng ta đă hẹn gặp lại nhau ở trên trời. Vĩnh biệt. Cầu cho con."

 

Cũng năm ấy, năm 1841, Đức Giám mục Cuénot gửi đến "Thánh Bộ Truyền giáo" một bản phúc tŕnh chi tiết về toàn bộ công cuộc truyền giáo. Đó là mối duy nhất để giữ liên lạc với Trung tâm Công Giáo, v́ không thể đi ra khỏi nước đưọc. Một vài đoạn trích cũng đủ đem lại một cái nh́n tổng quát về trách nhiệm mục vụ của vị Giám mục:

 

"Tất cả phần lănh thổ Nam Kỳ có người Công Giáo, lại giáp giới với biển, cách nào đó dễ có thể tiếp xúc với toàn thể bằng đường biển.

 

"Miền Trung và Miền Bắc nam Kỳ sẽ chết đói nếu không có sự cứu viện của Nam Kỳ, nước Cam Bốt, Vương dăy núi mà dân cư là những người c̣n ở t́nh trạng bán khai. Nước Cam Bốt, phần th́ thuộc các tướng dộc lập. Vùng các dăy núi dầ rừng rú cũng vậy. Một phần là của vua Nam Kỳ, c̣n lại là của các hoàng tử khác nhau.

 

"Nam Kỳ bao gồm 15 tỉnh. Không có thủ phủ nào trong giáo phận ngoài Huế. Ở Miền Tây, địa phận giáp giới với nước Xiêm. Về phía nầy, không có biên giới rơ rệt.

 

"Số Bổn đạo khoảng 90.000, mà ở Cam Bốt chỉ có 300 mà thôi (trên 8 triệu dân). Họ bị bách hại từ năm 1833. Chúng tôi thiếu thầy dạy chữ. Và trong số bổn đạo không có ai để lo cho giới trẻ. Cuộc bách hại đă giải tán những người lo cho chúng trước đây.

 

"Các linh mục bản xứ khi đi kinh lư th́ dược bổn đạo nuôi nấng, nhưng chi tiêu khác họ tự ḿnh trang trải nhờ tiền lễ. C̣n các linh mục người Au, họ sống nhờ trợ cấp mà Hội Thừa Sai Paris gửi cho họ hàng năm.

 

"Cuộc bắt đạo đă gây tai hại đủ loai. Tuy nhiên, máu các Thánh Tử Đạo h́nh như đă hứa hẹn nhiều mầm giống qúy. Nhưng chúng tôi thiếu thợ người Au và những thầy giảng xứng danh hiệu ấy. Dự án của tôi là thành lập thêm để họ hăng hái lo cho dân ngoại trở lại và dạy các dự ṭng. Không phải là tôi muốn xóa sổ thể chế cũ. Chức năng của những người nầy (trùm biện) ở trong các xứ đạo, dù ít hữu ích hơn nhưng cũng rất quan trọng để bảo vệ trật bên ngoài.

 

"Thời gian cũng không làm tôi thay dổi ư kiến về việc phân chia giáo phận làn làm, đôi. Hiện nay th́ chưa phải lúc, phần th́ chưa có thừa sai người Au ở Miến Nam Nam Kỳ, phần th́ chiến tranh đang tàn phá ở đó cũng nhưở Cam Bố.

 

Từ bản hoạt dộng năm 1841, chúng ta hăy ghi lại vài con số:

190 người lớn chịu Phép Rửa Tội.

355 dự ṭng.

407 hôn phối.

20.000 người xưng tội hằng năm.

 

(c̣n tiếp)

 

  

Tha Hương 68                                   Lan 64 tại Trung Quốc                                Toàn 66 tại Lộ Đức, Pháp

 

  

Rev Tâm thăm CVK                                ĐC Chung và Rev Tiến 65                        A/C Cao Nhang 60